Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Công nghệ thông tin trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng

Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính, hầu hết các mảng hoạt động của khu vực ngân hàng đề gắn liền với việc tiếp nhận và xử lý thông tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và có hiệu quả của từng ngân hàng nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng.
Thực tế đã chứng minh nhờ ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xử lý các bài toán nghiệp vụ ngân hàng, mở rộng các dịch vụ điện tử đã góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của NHNN, nâng cao chất lượng tiện ích ngân hàng; quản trị điều hành và quản trị rủi ro của các TCTD, qua đó mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc kể từ khi đổi mới đến nay.
Ứng dụng công nghệ hiện đại là phương tiện giúp các ngân hàng có thể đánh bại các đối thủ cạnh tranh, tạo ra những cơ hội giảm thiểu giấy tờ hành chính, thay đổi sự phân bố nguồn nhân lực theo hướng giảm thiểu bộ phận nghiệp vụ và tăng cường nhân lực cho các bộ phận dịch vụ chăm sóc khách hàng, làm thay đổi cách thức kinh doanh và tăng chất lượng dịch vụ. Nếu như trước đây, khi nói đến việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng, người ta ngầm hiểu rằng để thực hiện nó phải đi đến các chi nhánh, phòng giao dịch, tiếp xúc với các giao dịch viên hay nhân viên tín dụng…thì nay khái niệm này đã thay đổi rất nhiều nhờ những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ. Sự ra đời của dịch vụ ngân hàng điện tử đã mở ra những kênh giao tiếp điện tử hiện đại giữa khách hàng và ngân hàng thương mại như ATM, POS, Home Banking, Phone Banking, Mobile banking, Internet Banking… Đây là sự phát triển tất yếu bởi cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu của khách ngày càng cao và khắt khe hơn.
1. Những dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại
Các dịch vụ ngân hàng hiện đại có thể là các dịch vụ hoàn toàn mới hoặc cũng có thể là những dịch vụ truyền thống nay được nâng cấp trên nền tảng công nghệ hiện đại. Một số dịch vụ ngân hàng hiện đại đang được ứng dụng hiện nay:
- Thanh toán qua POS (Point of sale): Đây là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thông qua việc sử dụng kết nối giữa thiết bị đọc thẻ (Card reader) - còn gọi là máy quẹt (cà) thẻ/ hoặc POS với thẻ ngân hàng. Qua đó, hệ thống tự động trích tiền từ tài khoản của người mua trả cho người bán ngay. Sử dụng hình thức này chủ thẻ có thể thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ, rút tạm ứng tiền mặt tại bất kỳ điểm chấp nhận thẻ nào.
- Máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động ATM (Automated Teller Machine): Thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích, giúp khách hàng kiểm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ.

- Một các loại hình ngân hàng hiện đại khác:

(i) Home Banking: là sản phẩm có tính bảo mật cao nhờ hoạt động trên mạng thông tin liên lạc cục bộ giữa ngân hàng và khách hàng (mạng Intranet) cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng mà không cần đến ngân hàng. Nhờ dịch vụ này, khách hàng tiết kiệm tối đa chi phí đi lại, chi phí thời gian mà vẫn được đảm bảo thỏa mãn nhu cầu như kênh phân phối truyền thống. Ngoài ra dịch vụ này còn cung cấp các thông tin về tỷ giá, lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, các chương trình khuyến mại
(ii) Phone Banking: cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại cố định. Khách hàng có thể thực hiện các lệnh chuyển tiền, thanh toán hoá đơn dịch vụ, tìm hiểu các thông tin về tỷ giá hối đoái, giá vàng, giá chứng khoán, các giao dịch gần nhất và số dư tài khoản hiện tại của mình mọi lúc mọi nơi kể cả ngoài giờ hành chính.
(iii) Mobile Banking: Để thích ứng với sự phát triển của mạng thông tin di động, các ngân hàng Việt Nam đã nhanh chóng đưa ra thị trường sản phẩm Mobile Banking – sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại di dộng. Không chỉ thực hiện chức năng truy cập thông tin hay thực hiện các giao dịch thông thường, khách hàng còn có thể thực hiện chức năng thanh toán khi vào các siêu thị, cửa hàng hay khi đi du lịch trong nước. Hơn thế nữa, với quy trình Mobile Banking, khách hàng còn có thể nhận được thông tin từ ngân hàng bằng cách gửi tin nhắn yêu cầu đến số điện thoại quy ước của ngân hàng để nhận lại tin nhắn trả lời. Mỗi khi có giao dịch thực hiện trên tài khoản của mình, tổng đài của ngân hàng sẽ tự động gửi tin nhắn thông báo đến điện thoại di động của khách hàng.
(iv) Internet Banking: cung cấp tự động các thông tin về sản phẩm dịch vụ ngân hàng qua mạng Internet. Để tham gia, khách hàng đăng ký với ngân hàng sử dụng dịch vụ này để được cấp mật khẩu và tên truy cập. Với máy tính kết nối Internet, ở bất cứ đâu hay vào bất cứ thời điểm nào, khách hàng cũng có thể truy cập vào website của ngân hàng để được cung cấp thông tin, thực hiện các giao dịch tài chính. Khách hàng cũng có thể truy cập vào các website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán thông qua ngân hàng. Tuy nhiên, khác với các dịch vụ ngân hàng điện tử khác, Internet banking đòi hỏi ngân hàng phải có một hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với các rủi ro an ninh trên phạm vi toàn cầu. Điều này là tương đối khó khăn đối với các ngân hàng Việt Nam vì xây dựng một hệ thống bảo mật như vậy là rất tốn kém. Đây cũng là lý do vì sao dịch vụ này ở Việt Nam chưa thực sự phát triển.

2. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc phát triển các dịch vụ ngân hàng
2.1. Về thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam
Việc không sử dụng tiền mặt trong lưu thông là một trong những thước đo quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các dịch vụ ngân hàng thương mại, bởi vì để thực hiện các giao dịch điện tử đều phải thông qua hệ thống ngân hàng.
(Nguồn: chinhphu.vn)
Như đã thấy trên biểu đồ, tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán trong vòng 10 năm qua tại Việt Nam giảm mạnh từ mức 23,7% năm 2001 xuống 14,6% năm 2008 ( tức là đã giảm  gần 50% ) và năm 2009, 2010 vẫn duy trì được xu hướng tích cực này. Tuy tỷ trọng tiền mặt hàng năm đã giảm, nhưng vẫn còn ở mức cao hơn so với thế giới, khi mà tỷ trọng này ở các nước tiên tiến như Thụy Điển là 0,7%, Na Uy là 1%, còn Trung Quốc là ở mức là 10%. Mặt khác, tốc độ giảm tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam là chậm so với các nước khác, điển hình là Thụy Điển. Năm 1999, Thụy Điển vẫn được coi là nền kinh tế tiền mặt khi tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán vượt mức 17%. Đến năm 2000, sau khi cuộc cách mạng thanh toán không dùng tiền mặt được thực thi, tỷ lệ này chỉ còn 0,7%, một con số rất đáng khâm phục.
2.2. Tình trạng sử dụng thẻ thanh toán và tín dụng
Tính đến cuối năm 2010 cả thị trường Việt Nam có hơn 24 triệu thẻ tăng 12 lần (từ 2 triệu thẻ năm 2005); số lượng máy ATM tăng hơn 8 lần (từ 1.200 máy vào năm 2005 lên trên 11.137 máy); số thiết bị chấp nhận thẻ POS tăng 3,7 lần (từ 10.000 POS năm 2005 lên 37.000 POS). Cũng trong năm 2010, Việt Nam đã có tới 825,5 triệu lượt giao dịch bằng thẻ, (năm 2005 chỉ là 20,2 triệu lượt và 609 triệu lượt năm 2009). Tuy nhiên nếu so sánh với nhiều nước phát triển trong và ngoài khu vực, con số này vẫn còn khá khiêm tốn (Bảng 1).
 

Bảng 1: Số máy ATM; POS và số thẻ trên đầu người ở một số quốc gia năm 2010
Đơn vị: Máy





ATM
POS
Số thẻ/người
Bỉ
15.500
124.900
1,26
Canada
60.200
630.500
1,41
Pháp
53.300
1.376,60
0,88
Đức
79.500
593.000
0,91
Italia
54.700
1.334.500
0,57
Nhật Bản
139.200
1.706.100
2,57
Singapore
2.000
83.900
2,35
Anh
63.900
1.095.000
1,49
Mỹ
406.100
5.175.000
3,34
Việt Nam
11.137
37.000
 0,28
Nguồn: BIS
Nêu như mức độ truy cập tài chính được đo bằng số lượng các chi nhánh ngân hàng và các máy rút tiền tự động (ATM) trên 100.000 người thì ở Việt Nam, tính đến 2010, hệ thống các TCTD bao gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước với 1.405 chi nhánh cấp 1, 37 ngân hàng thương mại cổ phần với 1.830 sở giao dịch, chi nhánh và văn phòng giao dịch. Như vậy tỷ lệ chi nhánh, phòng giao dịch trên 100.000 người dân trung bình vào khoảng 3,72. Con số này mặc dù khá tương đồng với Philippine (khoảng xấp xỉ 4) nhưng vẫn thấp hơn Thái Lan và Indonexia, và so với các nước phát triển OECD là một khoảng cách khá xa (xấp xỉ 27). Mặt khác, mức độ phân bố các chi nhánh và phòng giao dịch ở nước ta lại không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, gây ra mức độ khó khăn khi truy cập thị trường tài chính ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân ở những vùng kinh tế mới nổi hoặc vùng sâu, vùng xa.
Mặt khác, Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ người sử dụng thẻ thấp trong khu vực, hay nói cách khác, dân chúng Việt Nam vẫn rất chuộng tiền mặt. Tốc độ tăng trưởng phát hành thẻ từ 2006 - 2010 đạt từ 150% - 200%, nhưng tỷ lệ thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ ngân hàng chỉ đạt chưa đến 5%. Số lượng giao dịch rút tiền mặt bằng thẻ qua hệ thống ATM chiếm đến 70 - 80% số lượng giao dịch thẻ thực hiện. Đa số công nhân viên chức chủ yếu sử dụng thẻ để đến tháng rút tiền lương và ít có giao dịch khác. Những người thỉnh thoảng mới giao dịch là công nhân và sinh viên, là đối tượng mà nhiều ngân hàng đã ồ ạt mời chào mở thẻ miễn phí.
2.3. Các dịch vụ ngân hàng trực tuyến
Một cuộc khảo sát do ComScore tiến hành trong năm 2010 ở 6 quốc gia gồm Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philippines, Hong Kong và Singapore cho thấy, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ tăng hàng năm cao nhất về số khách truy cập các trang web ngân hàng, chỉ đứng sau Indonesia với mức tăng cao nhất 72%. Kết quả này có được trong bối cảnh các ngân hàng ngày càng đầu tư mạnh vào website và khách hàng đang làm quen với hoạt động thanh toán hóa đơn qua mạng. Số người sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến như Home Banking, Phone Banking, Mobile banking và Internet Banking… tại Việt Nam đã tăng 35% từ 710.000 lên 949.000 người trong năm qua. Trong khi đó, con số này ở Indonesia là 72% (tăng từ 435.000 lên 749.000) và ở Philippines tăng 39% từ 377.000 lên 525.000.
Mặc dù đạt được những tỷ lệ tăng trưởng ấn tượng nói trên, nhưng đây chỉ là những con số mang tính tương đối. Thực tế là cả ba thị trường này đều kém phát triển hơn các thị trường còn lại nên chỉ một sự tăng nhẹ về mức tuyệt đối là đã đẩy tỷ lệ tăng tính theo phần trăm tương đối tăng lên một mức rất cao. Xét về số tuyệt đối thì Malaysia là nước có số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng qua mạng lớn nhất với 2,7 triệu người trong tháng 1/2011, tăng 16% từ 2,4 triệu người sử dụng vào tháng 1/2010. Hồng Kông đứng ở vị trí thứ hai với số người dùng tăng 18% từ 1,3 lên 1,5 triệu trong năm qua. Tiếp theo là Singapore với 889.000 khách truy cập trong tháng 1/2011 so với 779.000 khách của cùng kỳ năm ngoái, tương đương mức tăng 14%.
Như vậy, nhìn chung việc đáp ứng dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế ở Việt Nam vẫn còn hạn chế bởi các sản phẩm, dịch vụ của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn đơn điệu (Thu nhập phi lãi/Tổng thu nhập chỉ chiếm khoảng hơn 5%). Trong chiến lược phát triển sản phẩm, các ngân hàng trong nước vẫn chỉ tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực tín dụng. Các dịch vụ khác, nếu có, cũng chỉ dừng lại ở dịch vụ thẻ rút tiền, các hoạt động thanh toán qua tài khoản (ATM, POS), dịch vụ quản lý tài sản cho cá nhân thu nhập cao, quản lý két sắt, quản lý thấu chi... vốn đã phổ biến trên thế giới lại chưa được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam.
3. Nguyên nhân công nghệ thông tin chưa hỗ trợ đáng kể vào việc phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại
Thứ nhất là yếu tố hạ tầng kỹ thuật. Ở Việt Nam hiện nay mạng lưới ATM và sự kết nối thanh toán thẻ qua POS của hệ thống ngân hàng chưa hoàn chỉnh và thống nhất. Hiện mới chỉ có 8 ngân hàng thương mại tham gia kết nối hệ thống các điểm chấp nhận thẻ trên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, nếu khách hàng sử dụng thẻ của 8 ngân hàng này thì thẻ đó mới được chấp nhận thông qua các máy quẹt thẻ lẫn nhau, còn thẻ của các ngân hàng khác thì chỉ được sử dụng thông qua POS của ngân hàng đó (ngoại trừ thẻ tín dụng quốc tế). Vì vậy, giả sử trong ví của khách hàng có thẻ và trong thẻ có tiền cũng khó tìm được điểm quẹt thẻ phù hợp. Điều bất cập này gây rất nhiều phiền phức cho chủ thẻ, là nguyên nhân chính khiến người dân vẫn ưu tiên sử dụng tiền mặt.
Một yếu tố khác nữa là vấn đề an toàn kỹ thuật. Có thể thấy hiện nay những thông tin về máy ATM bị rò điện xuất hiện với tần suất khá cao trên báo chí đã gây ra bức xúc và hoang mang trong dân cư. Vì vậy, chỉ khi nào thực sự cần thiết, như đến kỳ lĩnh lương phải ra ATM rút tiền mặt thì mọi người mới buộc phải giao dịch qua ATM, còn lại hạn chế tối đa việc tiếp xúc với những máy này.
 Thứ hai, các đơn vị cung cấp dịch vụ kinh doanh cho khách hàng chưa mặn mà với việc chấp nhận thanh toán qua thẻ. Các siêu thị, cửa hàng, trung tâm mua sắm, khách sạn, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, xe... đều không ưa chuộng POS cho dù các ngân hàng lắp đặt miễn phí thiết bị này. Điểm mấu chốt ở đây là vấn đề không muốn công khai doanh thu để giảm bớt thuế thu nhập và không muốn mất phí cho ngân hàng. Mặc dù theo thông lệ quốc tế, phí suất mà các đơn vị này phải trả cho NH là 3% doanh số tiền quẹt thẻ, nhưng ít đơn vị kinh doanh nào ở Việt Nam chấp nhận trả tỷ lệ này, họ muốn miễn phí hoặc cùng lắm là trả từ 1% - 1,5% tổng doanh số. Hiện tại chỉ có những đơn vị có giao dịch thanh toán cho người nước ngoài (khách sạn, cửa khẩu...) là sẵn sàng chấp nhận sử dụng POS vì người nước ngoài có thói quen dùng thẻ.
Thứ ba, thói quen dùng tiền mặt của người dân. Tâm lý ngại trải nghiệm những công nghệ mới cùng với sự mù mờ về thông tin đã khiến đa số người dân vẫn ưa chuộng tiền mặt. Bản thân các chủ thẻ cũng ngại quẹt thẻ vì phải nhớ password, có khi phải quẹt đi quẹt lại và quan trọng hơn là phải bỏ thời gian tìm hiểu và học cách sử dụng thẻ. Thêm nữa, không thể phủ nhận một điều là khi thực hiện mua sắm qua thẻ, người tiêu dùng rất khó ước đoán lượng tiền chính xác mình đã chi ra nên thường phóng tay mua sắm. Chỉ đến khi kiểm tra số dư trên thẻ, thấy lượng tiền hao hụt đáng kể họ mới giật mình điều chỉnh. Ở đây có một khái niệm mới, đó là “cảm giác tiêu tiền”, tức là cái mà chỉ khi chi tiêu bằng tiền mặt người ta mới ý thức được rõ rệt lượng tiền đang “biến mất” khỏi ví như thế nào, cái mà thẻ tín dụng không thể hiện được. Vì vậy, một số đông người cho rằng sử dụng tiền mặt sẽ có tác dụng làm họ “hãm bớt” việc chi tiêu mua sắm, và như vậy sẽ tiết kiệm được nhiều tiền hơn. Một lý do nữa xuất phát từ vấn đề phí. Mặc dù phí thanh toán đánh vào các đơn vị kinh doanh thẻ, nhưng các đơn vị này lại “chia sẻ” một phần phí đáng kể cho khách hàng, vì thế không khuyến khích người dân thanh toán bằng thẻ.
Thứ tư, cách thức sử dụng phức tạp và sự thiếu đồng nhất trong dịch vụ. Nghiên cứu về người tiêu dùng Việt Nam do Nielsen công bố vào tháng 8/2010 cho thấy, trong số 600 người được khảo sát, chỉ có 1% sử dụng internet banking. Các dịch vụ Internet Banking, Mobile Banking có phương thức thực hiện giao dịch quá phức tạp, điều này đã làm cho các doanh nghiệp và cá nhân không mặn mà lắm với những dịch vụ tiên tiến này. Ngoài ra, trong quá trình triển khai, đa dạng hóa các kênh cung cấp dịch vụ mới như ATM, SMS, Call Center, Mobile Banking, Internet Banking…, các ngân hàng Việt Nam đã tiến hành riêng rẽ, thiếu kết nối. Ví dụ như 2 kênh giao dịch điện tử của ngân hàng là Mobile Banking và Internet Banking hiện nay vẫn chưa nhất quán về dữ liệu nên vẫn được tính như 2 mảng dịch vụ riêng. Điều này đưa đến cho người sử dụng những trải nghiệm khác nhau khi họ sử dụng cùng một loại giao dịch từ các kênh khác nhau. Đây là một trong những nguyên nhân mang tính chất định tính khiến khách hàng không cảm thấy thoải mái khi sử dụng các dịch vụ này.
Thứ năm, nguồn lực hạn chế. Mặc dù rất muốn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các dịch vụ của mình, nhưng thực tế là, vốn điều lệ của các ngân hàng Việt Nam còn hạn hẹp đã hạn chế khả năng trang bị và ứng dụng các công nghệ hiện đại. Nhìn chung, chỉ những ngân hàng lớn mới đủ quyết tâm và tiềm lực để thực hiện việc này. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các ngân hàng còn khá cao dẫn đến việc các ngân hàng khó kết nối, phối hợp với nhau trong việc cung cấp các sản phẩm nhất quán, gây khó khăn trong tương tác khách hàng.
Thứ sáu, công tác bảo mật. Công nghệ càng hiện đại bao nhiêu thì vấn đề bảo mật càng trở nên cấp thiết bấy nhiêu. Cung cấp các dịch vụ ngân hàng điện tử đồng nghĩa với việc quản trị rủi ro trở thành một thách thức với các ngân hàng. Một khi chưa đảm bảo đủ các biện pháp phòng chống gian lận và vấn đề bảo mật thông tin, các ngân hàng sẽ vẫn dè dặt khi tung ra các gói dịch vụ mới tiên tiến hay thậm chí là giới hạn các dịch vụ này để đảm bảo các giao dịch trong tầm kiểm soát. Về phía khách hàng, do niềm tin vào sự an toàn của việc sử dụng các dịch vụ điện tử chưa cao, nên những giao dịch có giá trị lớn vẫn thường được thực hiện qua các kênh dịch vụ truyền thống.
4. Một vài giải pháp
Việc ứng dụng CNTT ở các ngân hàng thương mại phải được thực hiện trên nền tảng công nghệ chuẩn, thường xuyên nâng cấp, cập nhật nhằm tăng cường tính an toàn, bảo mật của hệ thống song song với việc thiết lập một cơ chế dự phòng linh hoạt. Cụ thể:
- Tập trung xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất (với các phần mềm hỗ trợ hoạt động kinh doanh, quản lý), đảm bảo quy trình hoạt động xuyên suốt trong toàn hệ thống. Nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, giảm thiểu được các nguy cơ về rủi ro trong hoạt động kinh doanh và hỗ trợ việc đưa ra quyết định nhanh chóng, chính xác;
- Triển khai và áp dụng hệ thống Core Banking nhằm phát triển, mở rộng các sản phẩm dịch vụ, kiểm soát an toàn hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh;
- Tiếp tục đầu tư, hoàn thiện hệ thống CNTT phục vụ phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại (nghiệp vụ thanh toán trong nước và quốc tế…);
- Hoàn thiện hệ thống các phần mềm quản trị chuyên ngành khác (phần mềm Quản trị quan hệ khách hàng CRM, phần mềm Quản trị rủi ro Risk Management…;
- Xây dựng hệ thống CNTT hiện đại, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, tạo thế mạnh cạnh tranh riêng thông qua việc cạnh tranh bằng công nghệ - Trong đó tập trung triển khai các hệ thống tiện ích phục vụ khách hàng như: Xây dựng trung tâm chăm sóc khách hàng Contact Center; Cổng thông tin điện tử tích hợp các dịch vụ điện tử trên mạng Internet (qua Website của từng đơn vị)…;
- Nâng cao năng lực xử lý của hệ thống mạng LAN, WAN, thiết bị chuyển  mạch…; nâng cấp hệ thống an ninh, bảo mật ở  mức cao…;
- Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ IT chuyên nghiệp, có trình độ nghiệp vụ cao, đáp ứng nhu cầu quản trị vận hành và làm chủ các hệ thống công nghệ hiện đại. Trong đó tập trung đào tạo nâng cao trình độ, khảo sát công nghệ hiện đại trong nước và quốc tế, thực hiện các chế độ đãi ngộ…
Ngoài ra, mỗi ngân hàng cần tập trung nguồn vốn – nhân lực – kỹ thuật nghiên cứu hoặc thuê tư vấn quốc tế để xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên trong việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng công nghệ mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ của chính ngân hàng mình. Chẳng hạn ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV, đã xác định muc tiêu trong 10 năm tới là phát triện hệ thống ngân hàng điện tử làm nòng cốt trong phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ với các sản phẩm vượt trội, tiết kiệm thời gian, chi phí, nguồn lực và khoảng cách về địa lý. Theo đó BIDV cũng sẽ từng bước thành lập, liên kết bộ phận nghiên cứu với các ngân hàng tiên tiến tại các quốc gia phát triển tập trung nghiên cứu phát triển, nâng cấp sản phẩm dịch vụ tạo vị thế định hướng trên thị trường nội địa, tiến tới phát triển sang các thị trường quốc tế có hiện diện thương mại của BIDV. Ngân Hàng TMCP Sài Gòn - SCB cũng quyết tâm đưa CNTT trở thành công cụ đắc lực trong công tác quản trị điều hành ngân hàng thông qua qua việc xây dựng một hệ thống CNTT hiện đại, từ đó góp phần phát triển sản phẩm dịch vụ, nâng cao hiệu quả phục vụ khách hàng. SCB sẽ từng bước nâng cấp hệt hống phần cứng cũng như đường truyền với cấp độ cao và ổn đinh. Bên cạnh đó, ngân hàng này cũng sẽ áp dụng nhiều hơn việc sử dụng các phần mềm có thể phát hiện và ngăn chặn sự tấn công từ bên ngoài (như anti-virus, anti-spyware, Web filtering, deep inspection, vpn...) đảm bảo tính năng bảo mật cao cho các sản phẩm dịch vụ công nghệ ngân hàng.
Rõ ràng, công nghệ chính là một nhân tố tạo dựng một nền móng vững chắc giúp các ngân hàng Việt Nam trụ vững trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt thông qua việc cải thiện năng lực cạnh tranh, mở rộng khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tới khách hàng từ đó tăng khả năng chiếm thị phần của các ngân hàng. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, một hành trang công nghệ tiến tiến sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển bền vững hơn nhờ việc đa dạng hóa các dịch vụ, tối đa hóa lợi ích, xây dựng lợi thế cạnh tranh riêng biệt, tiếp tục đi lên cùng các nước bạn trong khu vực.  
                                                                                                        (11/10/2011)
Đỗ Thị Bích Hồng
Chuyên viên-Viện Chiến lược ngân hàng



Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012



Chicago-Style Citation Quick Guide

The Chicago Manual of Style presents two basic documentation systems: (1) notes and bibliography and (2) author-date. Choosing between the two often depends on subject matter and the nature of sources cited, as each system is favored by different groups of scholars.
The notes and bibliography style is preferred by many in the humanities, including those in literature, history, and the arts. This style presents bibliographic information in notes and, often, a bibliography. It accommodates a variety of sources, including esoteric ones less appropriate to the author-date system.
The author-date system has long been used by those in the physical, natural, and social sciences. In this system, sources are briefly cited in the text, usually in parentheses, by author’s last name and date of publication. The short citations are amplified in a list of references, where full bibliographic information is provided.
Aside from the use of notes versus parenthetical references in the text, the two systems share a similar style. Click on the tabs below to see some common examples of materials cited in each style, including examples of common electronic sources. For numerous specific examples, see chapters 14 and 15 of the 16th edition of The Chicago Manual of Style.

Notes and Bibliography: Sample Citations

The following examples illustrate citations using the notes and bibliography system. Examples of notes are followed by shortened versions of citations to the same source. For more details and many more examples, see chapter 14 of The Chicago Manual of Style. For examples of the same citations using the author-date system, click on the Author-Date tab above.

Book

One author

1. Michael Pollan, The Omnivore’s Dilemma: A Natural History of Four Meals (New York: Penguin, 2006), 99–100.
2. Pollan, Omnivore’s Dilemma, 3.
Pollan, Michael. The Omnivore’s Dilemma: A Natural History of Four Meals. New York: Penguin, 2006.
Two or more authors

1. Geoffrey C. Ward and Ken Burns, The War: An Intimate History, 1941–1945 (New York: Knopf, 2007), 52.
2. Ward and Burns, War, 59–61.
Ward, Geoffrey C., and Ken Burns. The War: An Intimate History, 1941–1945. New York: Knopf, 2007.
For four or more authors, list all of the authors in the bibliography; in the note, list only the first author, followed by et al. (“and others”):

1. Dana Barnes et al., Plastics: Essays on American Corporate Ascendance in the 1960s . . .
2. Barnes et al., Plastics . . .
Editor, translator, or compiler instead of author

1. Richmond Lattimore, trans., The Iliad of Homer (Chicago: University of Chicago Press, 1951), 91–92.
2. Lattimore, Iliad, 24.
Lattimore, Richmond, trans. The Iliad of Homer. Chicago: University of Chicago Press, 1951.
Editor, translator, or compiler in addition to author

1. Gabriel García Márquez, Love in the Time of Cholera, trans. Edith Grossman (London: Cape, 1988), 242–55.
2. García Márquez, Cholera, 33.
García Márquez, Gabriel. Love in the Time of Cholera. Translated by Edith Grossman. London: Cape, 1988.
Chapter or other part of a book

1. John D. Kelly, “Seeing Red: Mao Fetishism, Pax Americana, and the Moral Economy of War,” in Anthropology and Global Counterinsurgency, ed. John D. Kelly et al. (Chicago: University of Chicago Press, 2010), 77.
2. Kelly, “Seeing Red,” 81–82.
Kelly, John D. “Seeing Red: Mao Fetishism, Pax Americana, and the Moral Economy of War.” In Anthropology and Global Counterinsurgency, edited by John D. Kelly, Beatrice Jauregui, Sean T. Mitchell, and Jeremy Walton, 67–83. Chicago: University of Chicago Press, 2010.
Chapter of an edited volume originally published elsewhere (as in primary sources)

1. Quintus Tullius Cicero. “Handbook on Canvassing for the Consulship,” in Rome: Late Republic and Principate, ed. Walter Emil Kaegi Jr. and Peter White, vol. 2 of University of Chicago Readings in Western Civilization, ed. John Boyer and Julius Kirshner (Chicago: University of Chicago Press, 1986), 35.
2. Cicero, “Canvassing for the Consulship,” 35.
Cicero, Quintus Tullius. “Handbook on Canvassing for the Consulship.” In Rome: Late Republic and Principate, edited by Walter Emil Kaegi Jr. and Peter White. Vol. 2 of University of Chicago Readings in Western Civilization, edited by John Boyer and Julius Kirshner, 33–46. Chicago: University of Chicago Press, 1986. Originally published in Evelyn S. Shuckburgh, trans., The Letters of Cicero, vol. 1 (London: George Bell & Sons, 1908).
Preface, foreword, introduction, or similar part of a book

1. James Rieger, introduction to Frankenstein; or, The Modern Prometheus, by Mary Wollstonecraft Shelley (Chicago: University of Chicago Press, 1982), xx–xxi.
2. Rieger, introduction, xxxiii.
Rieger, James. Introduction to Frankenstein; or, The Modern Prometheus, by Mary Wollstonecraft Shelley, xi–xxxvii. Chicago: University of Chicago Press, 1982.
Book published electronically
If a book is available in more than one format, cite the version you consulted. For books consulted online, list a URL; include an access date only if one is required by your publisher or discipline. If no fixed page numbers are available, you can include a section title or a chapter or other number.

1. Jane Austen, Pride and Prejudice (New York: Penguin Classics, 2007), Kindle edition.
2. Philip B. Kurland and Ralph Lerner, eds., The Founders’ Constitution (Chicago: University of Chicago Press, 1987), accessed February 28, 2010, http://press-pubs.uchicago.edu/founders/.
3. Austen, Pride and Prejudice.
4. Kurland and Lerner, Founder’s Constitution, chap. 10, doc. 19.
Austen, Jane. Pride and Prejudice. New York: Penguin Classics, 2007. Kindle edition.
Kurland, Philip B., and Ralph Lerner, eds. The Founders’ Constitution. Chicago: University of Chicago Press, 1987. Accessed February 28, 2010. http://press-pubs.uchicago.edu/founders/.

Journal article

Article in a print journal
In a note, list the specific page numbers consulted, if any. In the bibliography, list the page range for the whole article.

1. Joshua I. Weinstein, “The Market in Plato’s Republic,” Classical Philology 104 (2009): 440.
2. Weinstein, “Plato’s Republic,” 452–53.
Weinstein, Joshua I. “The Market in Plato’s Republic.” Classical Philology 104 (2009): 439–58.
Article in an online journal
Include a DOI (Digital Object Identifier) if the journal lists one. A DOI is a permanent ID that, when appended to http://dx.doi.org/ in the address bar of an Internet browser, will lead to the source. If no DOI is available, list a URL. Include an access date only if one is required by your publisher or discipline.

1. Gueorgi Kossinets and Duncan J. Watts, “Origins of Homophily in an Evolving Social Network,” American Journal of Sociology 115 (2009): 411, accessed February 28, 2010, doi:10.1086/599247.
2. Kossinets and Watts, “Origins of Homophily,” 439.
Kossinets, Gueorgi, and Duncan J. Watts. “Origins of Homophily in an Evolving Social Network.” American Journal of Sociology 115 (2009): 405–50. Accessed February 28, 2010. doi:10.1086/599247.

Article in a newspaper or popular magazine

Newspaper and magazine articles may be cited in running text (“As Sheryl Stolberg and Robert Pear noted in a New York Times article on February 27, 2010, . . .”) instead of in a note, and they are commonly omitted from a bibliography. The following examples show the more formal versions of the citations. If you consulted the article online, include a URL; include an access date only if your publisher or discipline requires one. If no author is identified, begin the citation with the article title.


1. Daniel Mendelsohn, “But Enough about Me,” New Yorker, January 25, 2010, 68.
2. Sheryl Gay Stolberg and Robert Pear, “Wary Centrists Posing Challenge in Health Care Vote,” New York Times, February 27, 2010, accessed February 28, 2010, http://www.nytimes.com/2010/02/28/us/politics/28health.html.
3. Mendelsohn, “But Enough about Me,” 69.
4. Stolberg and Pear, “Wary Centrists.”
Mendelsohn, Daniel. “But Enough about Me.” New Yorker, January 25, 2010.
Stolberg, Sheryl Gay, and Robert Pear. “Wary Centrists Posing Challenge in Health Care Vote.” New York Times, February 27, 2010. Accessed February 28, 2010. http://www.nytimes.com/2010/02/28/us/politics/28health.html.

Book review


1. David Kamp, “Deconstructing Dinner,” review of The Omnivore’s Dilemma: A Natural History of Four Meals, by Michael Pollan, New York Times, April 23, 2006, Sunday Book Review, http://www.nytimes.com/2006/04/23/books/review/23kamp.html.
2. Kamp, “Deconstructing Dinner.”
Kamp, David. “Deconstructing Dinner.” Review of The Omnivore’s Dilemma: A Natural History of Four Meals, by Michael Pollan. New York Times, April 23, 2006, Sunday Book Review. http://www.nytimes.com/2006/04/23/books/review/23kamp.html.

Thesis or dissertation


1. Mihwa Choi, “Contesting Imaginaires in Death Rituals during the Northern Song Dynasty” (PhD diss., University of Chicago, 2008).
2. Choi, “Contesting Imaginaires.”
Choi, Mihwa. “Contesting Imaginaires in Death Rituals during the Northern Song Dynasty.” PhD diss., University of Chicago, 2008.

Paper presented at a meeting or conference


1. Rachel Adelman, “ ‘Such Stuff as Dreams Are Made On’: God’s Footstool in the Aramaic Targumim and Midrashic Tradition” (paper presented at the annual meeting for the Society of Biblical Literature, New Orleans, Louisiana, November 21–24, 2009).
2. Adelman, “Such Stuff as Dreams.”
Adelman, Rachel. “ ‘Such Stuff as Dreams Are Made On’: God’s Footstool in the Aramaic Targumim and Midrashic Tradition.” Paper presented at the annual meeting for the Society of Biblical Literature, New Orleans, Louisiana, November 21–24, 2009.

Website

A citation to website content can often be limited to a mention in the text or in a note (“As of July 19, 2008, the McDonald’s Corporation listed on its website . . .”). If a more formal citation is desired, it may be styled as in the examples below. Because such content is subject to change, include an access date or, if available, a date that the site was last modified.

1. “Google Privacy Policy,” last modified March 11, 2009, http://www.google.com/intl/en/privacypolicy.html.
2. “McDonald’s Happy Meal Toy Safety Facts,” McDonald’s Corporation, accessed July 19, 2008, http://www.mcdonalds.com/corp/about/factsheets.html.
3. “Google Privacy Policy.”
4. “Toy Safety Facts.”
Google. “Google Privacy Policy.” Last modified March 11, 2009. http://www.google.com/intl/en/privacypolicy.html.
McDonald’s Corporation. “McDonald’s Happy Meal Toy Safety Facts.” Accessed July 19, 2008. http://www.mcdonalds.com/corp/about/factsheets.html.

Blog entry or comment

Blog entries or comments may be cited in running text (“In a comment posted to The Becker-Posner Blog on February 23, 2010, . . .”) instead of in a note, and they are commonly omitted from a bibliography. The following examples show the more formal versions of the citations. There is no need to add pseud. after an apparently fictitious or informal name. (If an access date is required, add it before the URL; see examples elsewhere in this guide.)

1. Jack, February 25, 2010 (7:03 p.m.), comment on Richard Posner, “Double Exports in Five Years?,” The Becker-Posner Blog, February 21, 2010, http://uchicagolaw.typepad.com/beckerposner/2010/02/double-exports-in-five-years-posner.html.
2. Jack, comment on Posner, “Double Exports.”
Becker-Posner Blog, The. http://uchicagolaw.typepad.com/beckerposner/.

E-mail or text message

E-mail and text messages may be cited in running text (“In a text message to the author on March 1, 2010, John Doe revealed . . .”) instead of in a note, and they are rarely listed in a bibliography. The following example shows the more formal version of a note.

1. John Doe, e-mail message to author, February 28, 2010.

Item in a commercial database

For items retrieved from a commercial database, add the name of the database and an accession number following the facts of publication. In this example, the dissertation cited above is shown as it would be cited if it were retrieved from ProQuest’s database for dissertations and theses.
Choi, Mihwa. “Contesting Imaginaires in Death Rituals during the Northern Song Dynasty.” PhD diss., University of Chicago, 2008. ProQuest (AAT 3300426).

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012


Buổi tối khi tôi gặp Einstein
TT - Một bài học về cuộc sống từ chính nhà bác học lừng danh thế giới qua lời kể của nhà văn Mỹ Jerome Weidman. Câu chuyện, được trích từ “Những câu chuyện vĩ đại” của tạp chí Reader’s Digest, vừa được đăng tải trên một tờ báo Pháp như một lời kêu gọi hãy hành động như Einstein cho một thế giới tốt đẹp hơn.

Khi còn rất trẻ, mới đặt những bước chập chững vào đời, một tối tôi được mời tham dự một buổi chiêu đãi của giới thượng lưu tại tư gia một mạnh thường quân nổi tiếng của New York. Sau bữa tối, nữ chủ nhân dẫn chúng tôi đến một phòng tiếp tân lớn để tham dự một buổi hòa nhạc thính phòng.
Trớ trêu là tôi không phải một “tín đồ” của âm nhạc. Cho dù có cố hết sức tập trung đi nữa, tôi cũng không sao nhớ nổi một giai điệu, nói gì đến thứ nghệ thuật mà người ta gọi là “âm nhạc” vốn chỉ gợi lên trong tôi một mớ âm thanh hỗn độn. Thế nên, tôi ngồi vào giữa khối người đông đảo và chờ những nốt nhạc đầu tiên vang lên để vờ như lim dim thưởng thức, còn đôi tai khép kín mặc cho hồn mình lang thang phiêu lãng.
“Nào, hãy nói cho tôi biết kể từ khi nào cậu ác cảm với âm nhạc đến thế”
Cuối cùng, khi những tiếng vỗ tay vang lên kéo tôi khỏi những giấc mơ, tôi hiểu mình đã có thể trở lại với thế giới thực mà không lo màng nhĩ của mình bị tra tấn nữa. Chợt một giọng nói trầm ấm rót vào tai phải của tôi: “Cậu có thích Bach không?”.
Bach? Những gì tôi biết về ông cũng chẳng hơn những gì tôi biết về sự phân rã hạt nhân. Thế nhưng, tôi lại nhận ra gương mặt của người vừa hỏi tôi. Chân dung của ông nổi tiếng khắp thế giới với mái tóc trắng bù xù, cái ống điếu lúc nào cũng gắn chặt ở góc miệng. Tôi đang ngồi cạnh Albert Einstein mà!
“Tôi có thích Bach không ?”, tôi ấp úng. Tôi nhận ra trong ánh mắt như xuyên thấu kia, không chỉ là một sự lịch sự thông thường. Nhất là tôi có cảm giác ông không phải là người dễ bị lừa chút nào.
"Hãy đánh thức tâm hồn để thế giới đưa cái đẹp vào cư ngụ"
Albert Einstein
Bởi vậy, tôi lúng túng thú nhận với ông là tôi không biết và cũng chưa từng nghe một tác phẩm nào của nhà soạn nhạc này cả.
Một chút bối rối thoảng qua trên gương mặt của Einstein: “Cậu chưa bao giờ nghe Bach à?”.
Nghe thế, đúng là thiếu chút nữa là đủ lộn ruột lên rồi!
“Tôi tuyệt nhiên không có gì phản đối Bach cả - tôi vội đính chính - Chỉ là tôi không có khiếu âm nhạc hay tôi chưa bao giờ “cảm” được âm nhạc thôi”.
Vẻ nghiêm trọng hiện rõ trên gương mặt ông. “Xin theo tôi” - ông nói với một giọng mà tôi không sao từ chối nổi.
Ông đứng dậy và nắm tay tôi kéo đi. Tôi theo sát ông. Tôi bối rối bước đi mà mắt gắn chặt xuống thảm lót sàn, giữa những thực khách giờ đang dõi mắt nhìn chúng tôi và thì thầm đoán già đoán non không biết có chuyện gì xảy ra giữa hai chúng tôi. Einstein chẳng màng để ý đến điều này.
Ông bước lên cầu thang chừng như đã quen thuộc. Lên đến lầu, ông đưa tôi vào một phòng đầy sách và khép cửa lại.
“Nào, hãy nói cho tôi biết kể từ khi nào cậu ác cảm với âm nhạc đến thế” - ông nói với một nụ cười đầy lo lắng.
“Kể từ nào đến giờ rồi - tôi ấp úng - Ngài nên quay xuống dưới và tận hưởng màn độc tấu, giáo sư Einstein ạ. Tôi không thể tìm được niềm vui nào trong âm nhạc và điều đó sẽ làm hỏng buổi tối của ngài”.
Einstein lắc đầu, mặt cau lại, cho thấy tôi vừa nói một điều ngu xuẩn.
“Hãy nói cho tôi biết cậu thích nhất thể loại nhạc nào?”.
“Tôi thích những bài hát có lời và những giai điệu dễ nhớ”. Ông cười và gật đầu, như hài lòng với câu trả lời của tôi.
“Vậy cậu có thể kể cho tôi một vài ví dụ về thể loại mà cậu thích không?”.
“Gần như là tất cả những bài của Bing Crosby” - tôi bạo miệng nói.
“Tốt lắm”- ông lại gật đầu.
Ông tiến đến một góc phòng mở máy hát và lấy ra những đĩa nhạc. Tôi quan sát ông. “A!” - ông reo lên khi vừa tìm được một cái tựa của bài nhạc. Thế là giọng ca ngọt ngào trong giai điệu jazz của Bing Crosby trong ca khúc When the blue of the night meets the gold of the day vang lên khắp phòng. Einstein nhịp nhịp ống điếu với vẻ thích thú. Ông cắt ngang bài sau ba hay bốn câu nhạc.
“Giờ thì cậu có thể lặp lại những gì cậu vừa nghe?” - ông tỏ ra tha thiết.
Một lời mời mà tôi buộc phải thực hiện sao? Rõ là vậy. Thế là tôi hát lại ca khúc của Bing Crosby, cố sao cho đúng và nghe được. Khuôn mặt Einstein rạng rỡ hẳn lên.
“Cậu thấy đó!- ông mừng rỡ khi tôi kết thúc cuộc “trình diễn” của mình - Cậu có khiếu âm nhạc đấy chứ!”.
Nghe vậy tôi ấp úng trả lời là tôi đã nghe bài hát này hàng trăm lần và đã thuộc lòng, chứ chẳng có lý do nào xứng đáng để được nhận lời khen tặng của ông.
“Nói tào lao! - Einstein bực mình - Cậu vừa chứng minh điều ngược lại với những gì cậu nói đấy! Cậu có nhớ bài học đầu tiên của cậu về số học ở trường không? Thử hình dung xem nếu như trong những tiết học toán đầu tiên của cậu, thầy giáo yêu cầu giải một bài toán khó bằng các phép chia và phân số phức tạp thì liệu cậu có làm nổi không?”.
“Dĩ nhiên là không rồi!”.
Einstein vung ống điếu với vẻ đắc thắng: “Kết quả là cậu hoảng sợ và cùng lúc đó sẽ hình thành trong cậu một ác cảm đối với môn toán. Chỉ vì một thiếu sót nhỏ trong cách dạy của giáo viên mà cậu sẽ có thể bỏ qua một môn học tuyệt vời cho phần đời còn lại của cậu”.
Nhà bác học tiếp tục vung ống điếu như để củng cố thêm lập luận của mình. “Nhưng không người thầy nào lại ngốc đến mức đòi cậu làm những việc siêu đẳng như thế đâu. Họ sẽ dạy cậu những cái cơ bản để giải các bài toán và chỉ khi đã nắm vững được những cái cơ bản này, họ mới đưa cậu đến với những cái khó hơn như phép chia và phân số phức tạp. Âm nhạc cũng tương tự như vậy”.
Einstein giơ cao đĩa nhạc của Bing Crosby. “Bài hát này là thuộc về âm nhạc, còn phép cộng trừ lại thuộc về toán học. Giờ đây khi cậu đã làm chủ được giai điệu này, chúng ta có thể chuyển qua những thứ khác phức tạp hơn”.
Ông chọn ra một đĩa nhạc mới và cho nó vào máy hát. Giọng ca vàng John McCormack trong bài hát The trumpeter vang khắp phòng. Einstein cho ngừng đĩa hát sau vài dòng nhạc.
“Giờ, nếu được, hãy hát cho tôi nghe những gì cậu vừa được nghe”.
Tôi hát lại không chút e dè, và hát chính xác đến ngay cả bản thân tôi cũng bất ngờ. Einstein nhìn tôi với một vẻ mặt mà duy nhất một lần trong đời tôi đã nhìn thấy trên gương mặt xúc động của cha tôi khi tôi đọc bài diễn văn giã từ trong buổi nhận bằng tốt nghiệp ở trường trung học.
“Xuất sắc! - Einstein chúc mừng khi tôi vừa ngừng hát - Tuyệt vời! Chúng ta chuyển qua thể loại khác nhé”.
Cái “khác” ấy là một trích đoạn trong Cavalleria Rusticana của nhạc sĩ Pietro Mascagni, vở nhạc kịch một cảnh do Caruso trình diễn. Mặc dù chẳng hiểu gì nhưng tôi vẫn có thể hát lại gần giống giọng nam cao của nhân vật. Einstein vỗ tay tán thưởng.
Chúng tôi lại chuyển sang nghe nhạc không lời mà tôi phải ngâm nga lại các giai điệu. Khi tôi lên những nốt cao, Einstein há miệng và ngửa đầu ra sau như để đỡ cho tôi khi lên cao. Khi tôi hát lên được nốt cao cuối cùng (ít ra là nốt mà tôi có thể vươn tới được), ông ngừng nhạc. “Chàng trai trẻ ạ - ông nắm tay tôi - Giờ chúng ta đã đủ sức thưởng thức Bach rồi đấy”.
Khi chúng tôi quay lại thính phòng, các nhạc công đã lên dây đàn xong để chuẩn bị bắt đầu tiết mục mới. Einstein mỉm cười và thân mật vỗ nhẹ lên đùi tôi.
“Chỉ cần lắng nghe - ông thì thầm - còn bản năng của cậu sẽ làm điều còn lại”
Tôi không tin vào bản năng âm nhạc. Nếu như nhà bác học lừng danh này đã không giúp một kẻ “ngoại đạo” đến được với âm nhạc thì tối ấy chắc tôi sẽ không bao giờ cảm nhận được giống như tôi đã cảm nhận được lần đầu tiên trong đời khi nghe bài cantata của Bach Những chú cừu thanh bình gặm cỏ. Kể từ đó, tôi đã nghe đi nghe lại bài này nhiều lần và có thể nói tôi sẽ không bao giờ chán mỗi khi nghe lại. Nó luôn gợi lên trong tôi hình ảnh một người đàn ông hơi đẫy đà với mái tóc trắng bù xù, cái ống điếu luôn kẹp giữa kẽ răng cùng ánh mắt, ở đó luôn lấp lánh mọi sự thán phục của thế giới.
Buổi hòa nhạc kết thúc, tôi nhiệt tình vỗ tay tán thưởng. Chợt nữ chủ nhân xuất hiện trước mặt chúng tôi. “Tôi thật sự lấy làm tiếc, thưa giáo sư Einstein, ngài đã không thưởng thức được phần hay nhất của buổi biểu diễn rồi”, bà vừa nói vừa nhìn tôi với ánh mắt đầy vẻ trách móc.
Nhà bác học và tôi đều phật lòng. “Tôi cũng thật sự lấy làm tiếc - Einstein trả lời - Thế nhưng lúc nãy, người bạn trẻ này và tôi lại làm được một công việc cao đẹp nhất được giao phó cho con người thực hiện đấy”.
“Thật vậy sao? - bà lúng túng đáp lại - Hai vị có thể nói rõ hơn không?”.
Einstein mỉm cười và quàng lấy vai tôi. Lúc đó, ông mới nói vỏn vẹn vài từ đáng được khắc lên bảng vàng mà bản thân tôi sẽ mãi mãi biết ơn ông. “Hãy đánh thức tâm hồn để thế giới đưa cái đẹp vào cư ngụ”.
HÀ AN - T.N. (Theo Sélection)

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

Trào lưu chơi ảnh “Những điều con cháu chúng ta không bao giờ biết”

Những hình ảnh nhắc thế hệ 8X, 9X nhớ trò rồng rắn lên mây, bắn bi, ô ăn quan, nhớ món kẹo kéo, viên C hình trái tim giá 500 đồng/hộp; nhớ chiếc phiếu bé ngoan gắn ở nơi trang trọng nhất trong nhà...

Thời gian gần đây, cộng đồng mạng có xu hướng chia sẻ những hình ảnh vật dụng, trò chơi thuở bé. Trào lưu này thường được biết tới với cái tên Ấu thơ trong tôi là..., Những điều con cháu chúng ta không bao giờ biết, 8X có còn nhớ, hay Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ...

Trên các diễn đàn, thành viên ban quản trị rất chăm chỉ lục tìm những hình ảnh hiếm hoi thuộc về ký ức thế hệ 8X, 9X. Đa phần, những bức ảnh nhắc người ta nhớ nhiều hơn về giới trẻ thể hệ 8X. Thế nhưng, điều bất ngờ là 9X cũng lên tiếng, khẳng định những ký ức đó chỉ thuộc về 8X mà còn rất nhiều 9X cũng đã từng trải qua quãng thời gian khó quên với các trò chơi dân gian như: rồng rắn lên mây, búng dây chun, ô ăn quan...

Ngày nay, điều kiện sống được nâng cao, trẻ em có nhiều trò chơi hiện đại nhưng các bạn trẻ vẫn giữ niềm tự hào về những món đồ chơi mộc mạc.

Những hình ảnh gắn liền với ký ức ấu thơ được chia sẻ nhiều trên mạng:

Bắn bi. (Ảnh trong chủ đề Ha Noi)
Bắn bi. (Ảnh trong chủ đề Ha Noi)
 
 Trò nhảy nụ xoè hoa. (Ảnh trên trang cá nhân Lê Hà Phương)
Trò nhảy nụ xoè hoa. (Ảnh trên trang cá nhân Lê Hà Phương)
 
Trò rồng rắn lên mây. (Ảnh trên trang Ấu thơ trong tôi là...) 
Trò rồng rắn lên mây. (Ảnh trên trang Ấu thơ trong tôi là...)
 
Trò ô ăn quan. (Ảnh trên trang cá nhân Annabel Nguyen) 
Trò ô ăn quan. (Ảnh trên trang cá nhân Annabel Nguyen)
 
Ngày bé được mẹ/bà chở đi chợ, ngồi trong giỏ xe. (Ảnh trong chủ đề Ha Noi) 
Ngày bé được mẹ/bà chở đi chợ, ngồi trong giỏ xe. (Ảnh trong chủ đề Ha Noi)

Ngày bé được mẹ/bà chở đi chợ, ngồi trong giỏ xe. (Ảnh trong chủ đề Ha Noi)
Một trong những chiêu trò "dữ dội" nhất tuổi thơ: bắt chuồn chuồn cắn rốn để biết bơi. (Ảnh trên trang cá nhân Bống Xinh)
 
Trò chơi trốn tim, ai đã từng ti hí như thế này? (Ảnh trên trang cá nhân Hưng Nguyễn) 
Trò chơi trốn tim, ai đã từng "ti hí" như thế này? (Ảnh trên trang cá nhân Hưng Nguyễn)

 Chọi cỏ gà. (Ảnh trên trang Ha Noi)
Chọi cỏ gà. (Ảnh trên trang Ha Noi)
 
Tết hình lá dứa, lá cọ. (Ảnh trên trang Ha noi) 
Tết hình lá dứa, lá cọ. (Ảnh trên trang Ha noi)
 
Tết hình lá dứa, lá cọ. (Ảnh trên trang Ha noi)
Chiếc phiếu bé ngoan đơn giản, in hình bông sen hoặc hình Bác Hồ, cùng chữ "Bé Ngoan" rất có thể sẽ chỉ còn là kỷ niệm. (Ảnh trên trang Ha Noi)
 
Tết hình lá dứa, lá cọ. (Ảnh trên trang Ha noi)
Kẹo kéo. Ngày trước, trẻ em đem đổi nhôm đồng, sắt vụn và giày dép hỏng lấy kẹo. (Ảnh đăng trên trang cá nhân Nguyễn Hiệp)
 
Tết hình lá dứa, lá cọ. (Ảnh trên trang Ha noi)
Chương trình quen thuộc dành cho trẻ em tuổi 8X, phát sóng vào giờ ăn cơm buổi tối. (Ảnh trên trang cá nhân Việt Anh)
 
 Lớn lên, nhiều bạn trẻ vẫn đi tìm những lý giải cho hồi ức tuổi thơ.
Lớn lên, nhiều bạn trẻ vẫn đi tìm những lý giải cho hồi ức tuổi thơ.
 
Theo Mai Châm Infonet

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Hướng dẫn thi PMP - Mục tiêu tiêu theo kaka ...

Tháng 4/2010: bắt đầu biết đến PMP bằng khóa học PMF do PMC đào tạo, kết quả sau khóa học này là có được cái chứng chỉ của PMC về khóa học PMF vào tháng 6/2010 và có 1 số kiến thức cơ bản về: project, stakeholder,...

Tháng 9/2010 tham gia tiếp lớp thứ 2 của PMC để luyện thi PMP, sau khóa học này cũng được PMC cấp cho 1 cái chứng chỉ đã tham gia 5 ngày học workshop (cái này tương đương 40h học để làm điều kiện đăng ký tham gia thi).

Thực ra tính đến khóa học thứ 2 này của PMC mình vẫn ở trạng thái thụ động học PMP hơn là chủ động, vì lý do cũng chưa biết về nhiều PMP và do công việc dự án cũng bận nữa, nên không có nhiều thời gian để đọc thêm PM book, chủ yếu chỉ học dựa trên tài liệu của PMC cung cấp.

Sau khóa học này cũng đặt mục tiêu thi nhưng cũng chưa rõ ràng (do công việc dự án đang bận nên không có nhiều time tập trung được). Dự kiến là ra tết sẽ thi, nhưng do trước tết không tập trung học đc nhiều nên kế hoạch liên tục bị delay.

Tháng 3/2011 thì liên lạc với Nhóm Trung Hòa Nhân Chính hiện tại để học nhóm và sau đó thì tham gia trên diễn đàn vietpmp

Tháng 5/2011 thi PMP lần đầu tại thành phố HCM và kết quả là không đạt. Đối với lần thi này, trước khi đi thi mình cũng không tự tin lắm vì trước khi thi mới đọc đc PM book 1 lần, Rita book cũng đọc đc 2 lần (nhưng chưa nắm chắc chắn, hiểu rõ vấn đề), làm các câu hỏi trong Rita book, 1 số câu hỏi trong Rita Fast Track.

Sau lần 1 thi không đạt, đặt mục tiêu quyết tâm thi lại lần 2 để đạt được kết quả tốt và lên kế hoạch học...

2. Quá trình ôn luyện
Các tài liệu: PM book 4, Rita book, Rajesh Nair note
Các công cụ: PM Fast Track, examcentral, PM Study, một số ngân hàng câu hỏi khác

Tài liệu học chính:
PM BOK Guide 4th Edition
Rita's PM Exam Prep 6th Edition

Tài liệu Test chính:
- Rita Fastrack version mới nhất v6.0.2.4
- Head First PM Practice Exam 4th Edition
 

Sau lần thi thứ nhất mình nghỉ tầm hơn 1 tháng, đến tháng 7/2011 bắt đầu tập trung ôn trở lại
Đọc lại Rita book lần thứ 3 (lần này đọc châm, để hiểu chắc), kết hợp đọc lại PM book đối với những chỗ nào chưa rõ về khái niệm

Do k kịp ôn tập xong trước 31/08/2011 nên phải chuyển lịch sang 26/10/2011 (vì thi sau 15/10/2011 là có kết quả luôn)

Theo kế hoạch là đến trước khi thi 1 tuần mình đã review xong toàn bộ Rita book lần thứ 3 và PM book lần thứ 2 (với mức độ nắm rõ các khái niệm và kiến thức tổng quan)

Cùng với quá trình đọc là kết hợp làm câu hỏi trong Rita book, Rita Fast Track
1 tuần trước khi thi: luyện đề trong examcentral, PM study, đọc Rajesh Nair note (rất hiệu quả để tổng hợp kiến thức)
- Đọc và viết lại ITTO để hiểu, mặc dù không thuộc hết nhưng cũng nắm được khoảng 75%
- Kết quả test dao động từ 75%-80%
- Lưu ý: không nên phụ thuộc quá nhiều vào % điểm của các bài test để đánh giá khả năng thi đỗ hay không, mình chỉ dựa vào các bài Test để tìm lỗ hổng kiến thức và lấp những lỗ hổng đó. Có 1 số trg hợp do làm đi làm lại các đề nên dẫn đến thuộc câu hỏi và có thể đạt điểm cao các lần sau, nhưng kiến thức lại bị hổng, nên vẫn có khả năng không đỗ bài thi thật.

3. Quá trình thi

- Đặt vé máy bay trước ngày thi 5 ngày (đề phòng trường hợp đổi ngày thi)
- Tìm và liên hệ đặt phòng trước 5 ngày (lưu ý tìm địa điểm ở gần địa điểm thi là tốt nhất)
- Vào thành phố HCM trước 1 ngày (nên vào buổi sáng để có nhiều thời gian nghỉ ngơi cho ngày hôm sau thi)
- Trước hôm thi 1-2 ngày, cán bộ của trung tâm tổ chức thi Prometric sẽ gọi điện nhắc bạn mang các giấy tờ cần thiết như : Passport (lưu ý là Prometric không kiểm tra CMT nhé mà kiểm tra Passport), mail xác nhận thi (confirmation letter)
- Hôm thi dậy từ 6h, chuẩn bị đồ xong thì gần 7h đi ăn sáng ở quán gần địa điểm thi, ăn xong làm thêm 1 cốc cafe sữa đá cho tỉnh (cái này tùy từng người, ai hợp cái gì thì dùng cái đó).
- Đồ đạc mang theo đi thi: Passport, confirmation letter, nước uống, và các thứ cần thiết khác (tùy mỗi người)
- Mình đăng ký thi lúc 9h, mình đến phòng thi lúc 8h kém 10 (các bạn nên đến phòng thi trước 1 h để làm thủ tục), làm các thủ tục kiểm tra xong lúc 8h 15 và bắt đầu thi luôn.

- Quá trình thi:
- Chiến thuật: đọc chậm, chắc, làm đến đâu chắc đến đó
- 15 phút đầu sẽ là màn hình giới thiệu cách sử dụng các chức năng của phần mềm mô phỏng đề thi. Bạn không cần xem cái này hoặc cần xem thì xem qua rất nhanh. Mình dùng 15 phút này để viết hết các công thức EVM, kẻ mấy cột để note các câu hỏi đánh dấu và đáp án bên cạnh để khi cần xem lại thì chỉ tập trung vào 2-3 đáp án cho câu hỏi đó

- 100 câu đầu tiên làm hết 1h50: với độ chắc chắn tương đối cao.
- Đứng lên ra ngoài đi wc, rửa mặt, vận động chân tay cho thoải mái rồi lại vào làm tiếp 100 câu tiếp theo từ (tổng thời gian mất 10' cho nghỉ giữa giờ)

- 100 câu tiếp theo làm đến 3h50: với độ chắc chắn tương đối cao.
- Đánh dấu tầm 31 câu (ghi ra giấy số thứ tự câu và đáp án bên cạnh để xem lại cho dễ): chiến thuật đánh dấu của mình như sau: chỉ đánh dấu các câu mà mình phân vân giữa 2 đáp án (thường thì đáp án mình chọn lần đầu sẽ chiếm trọng số nhiều hơn), còn các câu nào mà mình k biết chọn đáp án nào (out of knowledge) thì mình sẽ chọn bừa 1 đáp án và mình không đánh dấu để đỡ mất thời gian xem lại và tránh hoang mang, vì nếu đánh dấu quá nhiều sẽ dẫn đến hoang mang, có thể mất tinh thần.

- Đa số các câu hỏi sẽ có 2 đáp án rất dễ nhận ra là sai, chỉ còn 2 đáp án có khả năng đúng cao và dẫn đến phân vân giữa 2 đáp án này. Đối với những câu mà mình phân vân giữa cả 4 đáp án (out of knowledge) thì bạn không nên mất nhiều thời gian để suy nghĩ làm gì, vì PMI đã quy định là chỉ cần vượt qua 61% là đỗ, nghĩa là bạn có thể bị sai 1 số câu nhất định, đó có thể là những câu đánh đố, có thể chuyên gia cũng trả lời sai.

- Còn 10' cuối cùng, mình xem lại khoảng 10 câu đánh dấu, có sửa 2 đáp án của 2 câu, các câu còn lại mình cũng k xem lại nữa, vì cũng tin tưởng độ chắc chắn của đáp án
- Kết thúc 10' cuối cùng là mấy phút lấy ý kiến đánh giá các điều kiện tổ chức của buổi thi, mình trả lời hết và cũng tin tưởng mình sẽ có kết quả tốt, và khi kết quả hiện ra : Congratulation thì thấy vui và hài lòng với kết quả mình đạt được
- Ra khỏi phòng thi lấy lại đồ, lấy chứng nhận điểm và đi về.
- Kết thúc một buổi thi thành công!

(sưu tầm từ internet)

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Managing the Multi-Vendor, Multi-Technology, Multi-Business Banking Technology Environment. Are you Ready?

By: Robin Hinds, Senior Architect
In the banking world, where technology is one of the most critical differentiating factors for the business, many institutions are struggling to understand and manage the partnership that exists between business and technology and how this partnership provides and supports the best customer service and products available. Could enterprise architecture be the answer your bank is looking for?
Whether your strategy is best in breed or best bang for your buck, chances are that your bank has evolved to a multi-vendor technology landscape where many commodity and differentiated services are provided by external vendors alongside your core internal applications and infrastructure. In fact, this trend is accelerating as more technology vendors provide extremely cost-effective and secure “cloud-based” solutions for banking technology needs.  Even at the foundation of banking technology, an increasing number of banks now utilize hosted solutions for their core banking as well as many ancillary systems.
Ultimately, efficient businesses are able to integrate and manage internally and externally provided technology capabilities together as enterprise resources that help  provide the best, most seamless and consistent customer service, whether it be in the branch, on the phone or across ATM, Internet or Mobile channels.
At many banks, technology vendor relationships are managed directly by the primary business unit user of the system and are distributed across the organization.  While this keeps the technology vendor close to the business it serves, there is often limited framework or support in the organization to provide visibility and share functionality with other business units that may be able to leverage capabilities of a given system.
The term enterprise architecture has many definitions and interpretations.  As a practice, enterprise architecture has two key dimensions:
1.  Understanding and modeling the enterprise view of how the business and its technology and data work together to support today’s business outcomes; and
2.  Aligning and guiding future changes relating to corporate, business and technology strategy.
As the banking industry continues to become increasingly technology-centric, it also becomes an industry for which enterprise architecture will have a pivotal future role.  This is true for banks across the size spectrum, from smaller banks that may be much more inclined to use external technology providers to larger banks with more complex and larger scale business and technology operations to control and manage.
Understanding the current state
In the banking world, the first dimension of a “Banking Enterprise Architecture Model” represents your bank’s unique functions, the technology applications supporting them and, where appropriate, the technology assets that support those applications, even down to the servers, storage devices, and networks.  This enables a shared understanding of how the complex network of applications work together to support your business.  For example, it is important that your organization holds and retains the knowledge of how technology supports your critical customer channels (teller, ATM, phone, online and mobile banking systems) as well as your payments processing (wire, ACH, transfer and bill-pay) and your core products (core deposits, loans, credit cards, etc.).  This is particularly important when these systems are provided and supported by multiple vendors and internal IT partners.  Having this knowledge within the bank is critical in order to retain control of your organization’s future and avoid costly reliance on vendor resources.  It is always important to be an educated buyer of technology, and enterprise architecture allows you to represent, use and maintain this critical knowledge.
With a shared model and understanding of how technology supports the business functions across the enterprise and the interdependencies between technology components, organizations have a foundation that enables a multitude of benefits, including:
  • Common definitions of internal and external technology for reference and comparison
  • A framework for transparent internal IT cost allocation and comparison to external providers (removing arbitrary allocations and driving the right business behavior)
  • Knowledge to support coordination of issue resolution and disaster recovery
  • Understanding of the flow and control of data through the bank’s systems
  • A view of current capabilities that could be used to satisfy immediate business needs
Mapping the future (the known knowns)
The second dimension of enterprise architecture is time.  Enterprise architecture allows you to take corporate, business, and technology strategies alongside changing business or technology requirements to work collaboratively to define and agree on the changes required across the organization. This, in turn, allows institutions to leverage known current capabilities most effectively, satisfy business requirements, and align technology with strategy.  This change can be visualized as a whole or segmented by each business unit in the form of a “technology roadmaps.”  These roadmaps are anchored by the representation of the known current state and show the planned change over time and the resulting future state(s).
Technology roadmaps combine internal and external technology and allow the business and technology providers to align on a shared expected journey.  This journey can incorporate vendor roadmaps, support life-cycles and technology upgrades to allow a business to best utilize the technology it owns and minimize any risks relating to support or aging technology.
In addition, roadmaps provide the basis for more responsive discussions around unplanned challenges that invariably arise, whether that be using existing technology to provide immediate tactical solutions or changing overall direction and strategy to cope with market, regulatory, or strategy change.
Technology roadmaps allow organizations to take advantage of additional benefits, such as:
  • Optimizing usage of current capabilities and maximizing ROI
  • Incorporating vendor product roadmaps to provide insight and help influence business strategy
  • Showing alignment of planned change to strategies
  • Responding to urgent business needs
  • Providing guidance and context to projects implementing or changing technology
  • Reducing reliance or tie-in to technology vendors
Establishing an enterprise architecture capability at your bank
Where do you start?  Establishing enterprise architecture is about defining and populating the right model that allows you to map your business to your technology world over time.  This involves both business and technology analysis, but it does not have to be a multi-month effort across the organization.  Once established, your business and technology does not typically change drastically over time, so maintaining the model is not a large overhead for the bank and does not require a large FTE investment.
Organizationally, enterprise architecture can be a part of your bank’s technology function or it can be a separated function that sits independently from internal technology and vendor-provided technology.  This depends on the dynamics of your organization and the defined responsibilities of your internal technology capability.  Enterprise architecture can also be related and aligned to strategic planning, vendor management, and procurement/sourcing functions within your organization.  In particular, annual strategic planning and budgeting processes related to technology can be greatly simplified by having access to the latest view of your enterprise architecture model and technology roadmaps.
By establishing enterprise architecture, many organizations are able to rationalize applications, identify cost savings, and reduce risk across the enterprise.  This provides some financial return on the initial cost, but the real ongoing benefit of enterprise architecture for banks is the ability to continue to grow competitive advantage and operational efficiency for returns that far exceed investment.

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Người Việt đầu 'khai mở' toán số tổ hợp thế giới

Anh là người đầu tiên trên thế giới tìm ra toán "số học tổ hợp" - tạo ra một con đường mới cho nền toán học thế giới. Anh cũng là người đưa ra lời giải cho một loạt các bài toán lớn mà nhiều thập niên lại đây, không ai giải được. Nhưng có lẽ ít ai ngờ, vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới lại có một tuổi thơ đầy nhọc nhằn trong những tháng năm đạn bom khói lửa ở quê hương Việt Nam.

Gia đình Vũ Hà Văn
Giải bài toán "bí" nhiều thập niên
Một loạt các lý thuyết toán học của các nhà toán học lẫy lừng như Segre về đại số năm 1950; Shamir về đồ thị ngẫu nhiên năm 1980 và bài toán của hai nhà Nobel vật lý Wigner - Dyson năm 1950, 1960, trong hàng chục năm qua chưa có ai giải đáp nổi để đưa vào ứng dụng. Bài toán “bí” này chỉ chấm dứt khi vị GS toán học người Việt, Vũ Hà Văn - hiện đang giảng dạy ở Trường ĐH Tổng hợp Rutgers, Hoa Kỳ - tìm ra một loạt các định lý về xác suất tổ hợp, ma trận ngẫu nhiên, mật độ giá trị riêng của ma trận ngẫu nhiên.
Sau khi đưa ra các định lý để lý giải, vận dụng các lý thuyết toán của các nhà toán học trên, thì những bài toán vốn đang nằm "ngủ" hàng chục năm qua mới được đưa vào ứng dụng trong thực tế. Anh cũng chính là người "khai mở" nên số học tổ hợp (nằm trong toán tổ hợp), một loại hình toán mới trên thế giới.
Với loại hình toán học mới này, Vũ Hà Văn đã xuất bản một cuốn sách mang tên Additive combinatorics dày 570 trang do nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành. Cuốn sách này anh viết chung với Terence Tao, một trong những nhà toán học hàng đầu của thế giới.
Nhờ những sáng tạo mở ra ngành toán học mới và tìm ra lời giải cho những bài toán "bí" suốt nhiều thập niên, Vũ Hà Văn được trao tặng giải thưởng George Polya. Tên tuổi và những đóng góp của anh được đặt bên cạnh những tên tuổi toán học lớn của thế giới. Thần đồng toán học thế giới L.Lovasz, hiện là chủ tịch Hội toán học thế giới cũng được trao giải thưởng này vào năm 1979.
GS Vũ Hà Văn cho biết: "Một số công trình phát triển và ứng dụng lý thuyết xác suất mà nhờ đó tôi được trao giải Polya là công trình mà qua đó để giải quyết một số bài toán tổ hợp. Phần lớn các công trình này được bắt nguồn từ luận án Tiến sĩ tôi viết tại Đại học Yale (1994-1998). Trong vòng 10 năm qua, các ý tưởng đã được đào sâu, tìm được nhiều ứng dụng và tôi cũng đã phát triển chúng thêm rất nhiều".

Cuộc hội ngộ với thần đồng toán học L.Lovasz
Có lẽ, người có công đưa Vũ Hà Văn đến với thành công ấy, chính là thần đồng toán học L.Lovasz. Đến bây giờ anh vẫn nhớ như in cái ngày định mệnh năm 1987, sau khi tốt nghiệp Trường chuyên Hà Nội - Amsterdam, Vũ Hà Văn lên đường sang Hungary học ngành điện tử tại ĐH Bách khoa Budapest. Trong cuộc thi toán Schweitrer Miklos dành cho sinh viên Hungary, bài luận của Vũ Hà Văn đã được Viện sĩ Hàn lâm, thần đồng toán học thế giới L.Lovasz  nghe. Ngay sau đó, thần đồng toán học đã đích thân gửi thư tới Đại sứ quán Việt Nam tại Budapest và bày tỏ về khả năng toán học đặc biệt của Văn. Thần đồng toán học thế giới đã đề nghị Đại sứ quán cho sinh viên Vũ Hà Văn được tiếp tục quá trình học tập tại khoa Toán của Trường ĐH Tổng hợp Eotvos Lorand.
"Tôi rất mong muốn nhận được sự giúp đỡ để chúng ta có thể đào tạo tài năng này một cách tốt nhất", giáo sư L.Lovasz nhấn mạnh trong lá thư gửi Đại sứ quán. Lá thư này đã tạo nên bước ngoặt lớn trong cuộc đời chàng sinh viên Vũ Hà Văn. Anh chuyển từ ngành Điện sang học ngành Toán.
Dưới sự giảng dạy trực tiếp của thần đồng toán học thế giới - GS L.Lovasz, chàng sinh viên Việt Nam Vũ Hà Văn đã sớm bộc lộ những sáng tạo xuất sắc trong ngành Toán và đạt được những thành tích đáng nể trong cuộc đời sinh viên.
Liên tục trong các năm 1991, 1992, 1993 anh đã đoạt giải thưởng trong các cuộc thi Schwritzer - là cuộc thi toán khó nhất cho sinh viên nhằm tìm những nhà nghiên cứu cho tương lai. Là sinh viên năm thứ 3, anh được cử đi dự hội nghị toán học trẻ quốc tế tổ chức tại Đại học Conell ở Hoa Kỳ. Tại hội nghị lớn này, anh đã được đọc bài luận và đăng bài trên tạp chí toán học thế giới. Sang năm học thứ tư, anh được cấp thêm một học bổng của các nước trong khối Cộng đồng châu Âu, sang Bỉ theo học chuyên đề một năm tại Trường đại học Gent.
Năm 1994, tốt nghiệp đại học với tấm bằng đỏ, Vũ Hà Văn lại được nhận giải thưởng Renyi Kato của Hội toán học Hungary và được nhận làm luận án tiến sĩ. Với bảng thành tích dày đặc sau 5 năm được thần đồng toán học thế giới giảng dạy, khi tốt nghiệp đại học tại Hungary, có tới 3 trường đại học danh tiếng của Hoa Kỳ đã đồng ý triệu tập Vũ Hà Văn sang học tiến sĩ.
Cuối cùng, mùa hè năm 1994, Vũ Hà Văn đã quyết định sang Hoa Kỳ học tiến sĩ ngành toán tại ĐH Yale, là ngôi trường cổ có ngành toán tốt nhất Hoa Kỳ, dưới sự hướng dẫn của GS Lovasz. Hiện anh đang giảng dạy tại ĐH Tổng hợp Rutgers, New Jersey - ngôi trường có bộ môn toán tổ hợp mà anh theo đuổi. Vũ Hà Văn còn được mời làm Chủ nhiệm chương trình "Số học tổ hợp" của IAS.

Cuộc sống gia đình bình dị
Nhìn cuộc sống đầy đủ, tên tuổi vang dội của GS Vũ Hà Văn bây giờ thì ít ai ngờ, anh cũng từng trải qua tuổi thơ đầy nhọc nhằn trong những năm tháng quê hương Việt Nam còn khó khăn. Đó là những năm tháng mà cha Vũ Hà Văn, nhà thơ Vũ Quần Phương gọi là: "Sống cho qua kỳ đói, khỏi kỳ loạn và chỉ nghĩ làm sao để gia đình được cơm no áo ấm, chứ không dám mơ tới cơm ngon áo đẹp".
Vũ Hà Văn sinh năm 1970, đúng những năm tháng chiến tranh, khói lửa, nên cuộc sống vô cùng vất vả. Cho đến khi thi đỗ điểm rất cao vào khoa Điện tử - Tin học của ĐH Bách khoa Hà Nội, được tiêu chuẩn theo học ở nước ngoài và sang Hungary học, anh vẫn sống trong sự túng thiếu.
Một lần, anh đã phải thốt lên với cha: "Trong đời làm sinh viên của con, con chưa bao giờ được mua đồ mới để dùng cả". Tất cả các đồ dùng cần thiết cho cuộc sống như quần áo, sách vở, radio... Văn đều phải mua lại của những sinh viên tốt nghiệp về nước với giá chỉ bằng 20 - 30% so với đồ mới. Nhưng tất cả những nhọc nhằn của tuổi thơ, của chàng sinh viên xa nhà nơi đất khách cũng không quật ngã được ý chí mạnh mẽ trong Vũ Hà Văn. "Những năm Văn học ở Hungary thiếu thốn lắm, học bổng chỉ đủ ăn thế mà sau 3 năm học đầu, Văn vẫn tiết kiệm được 100 USD mang về cho bố mẹ. Khi cầm đồng tiền ấy, tôi thực sự rất xúc động và thương con", nhà thơ Vũ Quần Phương kể.
Những thành công lớn trên thế giới của Vũ Hà Văn sau này dường như không chỉ là những trái ngọt nơi đầu cành ở chốn đất khách quê người, mà nó đã được ươm mầm từ những năm tháng thơ ấu. Lớn lên trong khốn khó, nhọc nhằn về kinh tế nhưng Vũ Hà Văn lại được hưởng một môi trường giáo dục gia đình tình cảm và luôn đặt sự học lên hàng đầu.
Cha anh, nhà thơ Vũ Quần Phương dù công việc có bận đến bù đầu, vẫn luôn đưa con đi học hàng ngày. Khi đến giờ đón con tan học, dù đang ngồi uống bia vui vẻ bù khú với bạn bè, nhà thơ Vũ Quần Phương cũng gác cốc đứng dậy đi đón con. "Đừng bao giờ để đứa trẻ đứng đợi ở cổng trường bơ vơ, dù là 5 phút. Khi mà tất cả lớp về hết rồi mà còn mỗi con mình đứng đó thì nó buồn đến chừng nào và lo sợ đến chừng nào. Tôi mồ côi bố từ năm lên 6 nên càng thấm thía sự cô đơn và không bao giờ muốn con có cảm giác mà tôi từng trải qua", nhà thơ Vũ Quần Phương tâm sự. Ông cũng hết sức cầu kỳ khi chọn thầy, chọn trường cho con bởi theo ông, sự thành công của đứa trẻ có sự đóng góp chủ yếu của các thầy. Tâm niệm vậy, nên ngay từ bé, ông đã miệt mài tìm bằng được cho con vị thầy giáo giỏi bậc nhất Hà Nội lúc bấy giờ là thầy Tôn Thất. Dù ngày nắng cũng như ngày mưa gió, bão bùng, ông vẫn đạp xe chở con hàng cây số đến nhà thầy học.
Vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới suốt ngày bù đầu với việc giảng dạy, nghiên cứu, viết sách nhưng vẫn không quên ngày nào cũng gửi email từ Hoa Kỳ về Việt Nam cho cha mẹ. Bức thư dù ngắn ngủi vài dòng hay dài dằng dặc đến vài trang, luôn là những thông điệp, những dòng tin nhắn, những bức ảnh kể về công việc, cuộc sống trong ngày của Văn và vợ con. Và anh cũng tận tụy với con, với gia đình như chính cha anh đối với anh thuở còn thơ ấu. Sáng sáng, anh đưa hai con tới trường, rồi lái xe tới nơi làm việc hoặc làm việc tại nhà để đến 4 giờ chiều lại vội vã đi đón con, nấu bữa tối cho cả gia đình. "Do công việc giảng dạy và nghiên cứu của tôi chủ động được thời gian hơn nên những khi không phải đi giảng dạy ở các nước, tôi thường đảm nhiệm việc đưa đón con tới trường giúp vợ. Vợ tôi phải làm công việc theo giờ hành chính không thể về sớm được nên tôi cũng giúp vợ công việc nội trợ như nấu cơm, đi chợ", vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới mỉm cười "thanh minh".


Nhờ những sáng tạo mở ra ngành toán học mới và tìm ra lời giải cho những bài toán "bí" suốt nhiều thập niên, Vũ Hà Văn được trao tặng giải thưởng George Polya 2008, lần trao giải George Polya gần đây nhất. Đây là giải thưởng cao nhất dành cho những người nghiên cứu toán tổ hợp của Hội Toán học ứng dụng và công nghiệp Mỹ (SIAM) lập ra từ năm 1969. Theo đánh giá của SIAM, các công trình của Vũ Hà Văn đã phát triển các bất đẳng thức cơ bản cho các đa thức ngẫu nhiên. Các bất đẳng thức này có phạm vi ứng dụng rộng hơn các bất đẳng thức trước đây; chúng cho phép tìm ra lời giải cho một số bài toán lớn từ lâu nay trong hình học xạ ảnh, hình học lồi, lý thuyết đồ thị… Các bất đẳng thức này là một trong những đóng góp quan trọng nhất trong lý thuyết tổ hợp xác suất trong một thập kỷ qua
Theo Bảo Vân (GĐXH)