Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Chọn nghề - quyết định quan trọng cả đời


 
 
1. Xác định thế mạnh của bạn phù hợp với công việc bạn mơ ước

Bạn cần hết sức thực tế khi xác định công việc yêu thích của mình. Hãy tự hỏi bạn thích làm việc gì nhất. Điều quan trọng là bạn cần có thế mạnh và khả năng phù hợp với yêu cầu của công việc này. Ví dụ, nếu bạn thích gặp gỡ nhiều người và có khả năng giao tiếp tốt, bạn có thể hướng mình phát triển ở lĩnh vực quan hệ công chúng. Hoặc nếu bạn giỏi môn toán và yêu thích công việc tính toán, bạn có thể nghĩ đến nghề nghiệp trong lĩnh vực tài chính, đầu tư hay ngân hàng.

Bạn cũng nên cân nhắc những điều bạn không thích, thậm chí là ghét nhất bởi vì nhiều công việc có vẻ rất thú vị nhưng lại có một số yếu tố không phù hợp với bạn.

2. Điều gì quan trọng nhất đối với bạn?

Thu nhập cao, cơ hội phát triển nghề nghiệp, cả hai, hay còn điều gì khác nữa? Bạn nên cân nhắc kỹ việc bạn mong muốn gì ở công việc trong tương lai. Đa số nhân viên có xu hướng chọn những công việc có cơ hội phát triển nghề nghiệp bởi vì sớm hay muộn họ sẽ có thu nhập cao hơn từ những cơ hội như thế.
 
 

3. Đánh giá hướng phát triển của ngành nghề bạn muốn theo đuổi

Bạn hãy tìm hiểu thật kỹ hướng đi lâu dài của ngành nghề mà bạn dự định theo đuổi. Bạn có thể sẽ phải đối mặt với những rủi ro nào? Trong trường hợp ngành nghề yêu thích của bạn có một tương lại khá mờ mịt trong vòng 5 – 10 năm tới (bạn có thể dựa vào những số liệu thống kê trên các phương tiện truyền thông hay dùng khả năng phán đoán của mình để xác định), bạn nên chuyển hướng sang ngành nghề khác có khả năng phát triển tốt hơn.

4. Quyết định chọn nghề

Có thể bạn có nhiều lựa chọn cho sự nghiệp trong tương lai; nhưng bạn phải xác định được công việc nào thật sự quan trọng và hấp dẫn nhất đối với bạn. Bạn nên so sánh giữa điều lợi và bất lợi của từng lựa chọn để đưa ra quyết định đúng đắn.

Có một cách đơn giản giúp bạn đấy: bạn hãy lên một danh sách liệt kê những lợi thế và những bất lợi của công việc bạn yêu thích. Khi đó bạn sẽ so sánh dễ dàng hơn. Bạn cũng có thể tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm để có được những lời khuyên hữu ích.

Hãy nhớ rằng, một quyết định trước đây không bao giờ ràng buộc bạn mãi mãi. Trong quá trình làm việc, có thể bạn sẽ mong muốn phát triển theo một hướng khác, vì thế, đừng ngại thay đổi. Luôn có những cơ hội mới đang chờ đón phía trước giúp bạn tìm hướng đi phù hợp nhất cho mình.
 
S.T (Depplus.vn/MASK) 

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Tôi đã học nói và viết Tiếng Anh lưu loát như thế nào?

1 Phương pháp học nói và viết Tiếng Anh của Danny

Đầu tiên là những đồ chơi cần thiết mà mình sử dụng trong quá trình học
  1. Notepad ++ hoặc Microsoft để tập viết. Nếu bạn không thích viết trên máy thì giấy và bút cũng hiệu quả như thường
  2. Pomodoro Timer: để học và quản lý thời gian học hiệu quả hơn. Bạn có thể download phần mềm quản lý Pomodoro ở đây. Chưa biết cách dùng thì xem qua ở đây
  3. Google search, Google translate
  4. Máy quay hoặc webcam để luyện nói, cộng thêm cái microphone tốt tốt nữa nhé.
Bên trên là vài thứ đơn giản để bắt đầu luyện tập nói và viết. Tiếp theo là quy trình và cách học như thế nào đây?

Học Viết Tiếng Anh Như Thế Nào?

Đầu tiên mình sẽ nói đến việc học viết. Đầu tiên, là phải vượt qua nỗi sợ, sợ sai ngữ pháp, sợ sai từ vựng, sợ thiếu vốn từ… Và cách học của mình như sau
  1. Viết một đoạn văn ngắn (hoặc dài tuỳ bạn) chỉ sử dụng thì hiện tại đơn, đó là dùng is hoặc does cho chủ từ số ít, và are hoặc do cho chủ từ số nhiều, đơn giản quá phải không nào, ai học English mà ko biết thì này thì thôi khỏi học nữa (kidding). Việc làm này sẽ giúp bạn không còn bận tâm về ngữ pháp khi viết nữa
  2. Ý nào bạn không biết hoặc thiếu từ vựng thì hãy vào Google Search và gõ nguyên câu mà bạn muốn viết vào đó, nó sẽ cho ra gợi ý rất rất hay, hãy ghi nhớ những câu này.
  3. Sau khi viết xong, hãy dò lại từng câu, và áp dụng bài tập chia thì, xem xét xem bối cảnh của câu này thì nên dùng thì nào: Quá khứ, hiện tại hoàn thành hay tương lai. Để thực hành bài này bạn sẽ cần biết một số từ đơn giản để nhận biết, ví dụ như ago, yesterday… là quá khứ, tomorrow, next… là tương lai… Đơn giản phải không nào
  4. Viết lại nguyên đoạn văn với ngữ pháp đã được sửa chữa, trong lúc viết thì vừa viết vừa ghi nhớ lại ngữ pháp cũng như từ vựng nhé.
  5. Luyện tập hàng ngày (Mình nhấn mạnh hàng ngày), mỗi ngày bạn hãy dùng 2 – 4 pomodoro để luyện tiếng Anh, đều như vắt chanh vậy nhé, lúc đầu có thể viết chậm, thiếu ý tưởng, nhưng cứ từ từ bạn sẽ khá hơn rất nhiều, ko ai giỏi chỉ 1 vài ngày được. Thành Rome ko phải xây trong vài ngày hay vài tháng… Bạn muốn sự thành công, bạn phải trả bằng thời gian và công sức.
Bên trên là tất cả những gì mà mình đã và đang áp dụng để học viết Tiếng Anh trôi chảy mỗi ngày. Nếu bạn thấy thích phần nào thì có thể áp dụng vào cách học của bạn nhé.

Học nói Tiếng Anh lưu loát như thế nào?

OK, tiếp đến là học nói như thế nào? Nói là phần mà mình thích nhất khi học tiếng Anh, và mục tiêu là không những nói được, mà phải nói sao cho ra giọng bản xứ, chứ còn ồ ồ cạc cạc thì cũng ko ra gì.
Cách học thì cũng đơn giản, cách mà mình ưa thích đó là: “Fake it still you make it“. Nói đơn giản hơn, thì là cứ bắt chước như vẹt, cụ thể là thế nào?
  1. Kiếm 1 đoạn video của 1 diễn giả nào đó hoặc bất cứ ai mà có chất giọng mà bạn cảm thấy thích và muốn học nói giống người đó
  2. Chia bài nói của họ ra nhiều đoạn, mỗi đoạn một vài câu, sau đó bạn ghi ra đoạn mà họ nói, rồi thu âm lại và nói theo, nói sao cho thiệt giống, từ cách lên giọng, xuống giọng, cho đến cách phát âm từng chữ. Cứ học như vẹt vậy đó, không cần cảm thấy:”Học kiểu gì mà sida vcl, học kiểu này thì biết nói sao nổi”. Đây là phương pháp đã được kiểm chứng, do đó bạn cứ học như vẹt luôn nghen… Từ từ bạn sẽ thấy công hiệu của nó.
  3. Sau khi thành thạo từng câu nhỏ thì hãy diễn và nói nguyên bài luôn nhé. Chắc chắn là không lâu sau bạn sẽ tự tin nói Tiếng Anh như gió và cực hay luôn đó.
Phối hợp cả 2 phương pháp nói và viết, vừa tăng từ vựng, vừa tăng tự tin khi nói. Thật sự khi nói được đúng chuẩn giọng Mỹ thì cool lắm. Thật đấy.

Lời kết

Có rất nhiều cách để giúp bạn học Tiếng Anh tốt hơn, nhưng quan trọng là hãy chọn những cách nào mà bạn cảm thấy phù hợp nhất để theo đuổi, Ngoài ra mình có 1 câu muốn nói với bạn để bạn có thể thành công hơn, không chỉ là trong việc học tiếng Anh mà còn trong công việc và cuộc sống

Hãy làm từ những việc nhỏ nhất, và luôn kiên trì làm đều đặn mỗi ngày

Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ, không việc gì phải vội, vội vàng không giúp dược gì cho bạn cả, bạn không thể giỏi trong 1 vài ngày. Cứ từ từ, chậm mà chắc, đó là suy nghĩ của mình. Hi vọng bài viết sẽ giúp ích cho bạn phần nào. Chúc bạn thành công và hẹn gặp lại trong những bài viết sau
Danny Nguyen (Đã được biên tập lại)

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Dịch thơ Cavafy

(Lưu lại làm của để dành)

December 20, 2013 at 1:45am
Ithaca bạn đi ngày mai
Hãy ước rằng hành trình thật dài
Đầy hiểm nguy và đầy khám phá
Chớ có sợ gã thần biển cả
cùng ba thằng khổng lồ chột mắt
hay lũ khổng lồ ném đá, ăn thịt, uống máu người
Bạn sẽ không gặp chúng nó đâu
khi trong đầu bạn là sự cao cả
khi cảm xúc hân hoan kỳ lạ
vẫn mơn man tâm hồn thịt da.
Bạn sẽ không gặp chúng nó đâu
gã thần biển cả và ba thằng khổng lồ chột mắt
lũ không lồ ném đá ăn thịt uống máu người
Trừ khi bạn đã có chúng ở ngay trong tâm hồn
Trừ khi tâm hồn đem chúng đến ngay trước mắt.

Hãy ước rằng hành trình thật dài
Với bao nhiêu buổi sáng hè rực rỡ
Với bao nhiêu sung sướng, bao nhiêu niềm vui
Khi bạn cập một bến cảng lần đầu
Hãy tới gian hàng người Phê ni xiên
Tìm mua lấy những món hàng tuyệt mỹ
Ngọc trai, san hô, hổ phách, gỗ mun
Những hương thơm làm say đắm tâm hồn
Những hương thơm làm say đắm tâm hồn mua càng nhiều càng tốt
Và hãy đi tới nhiều thành đô Ai cập
Gặp những nhà thông thái, và học từ họ
Những bí mật của cuộc đời.

Hãy luôn giữ Ithaca trong tim
Đi tới đó sẽ là số phận
Nhưng hành trình chớ có vội vàng
Thà cứ đi qua bao nhiêu năm
Để khi tới đích thì bạn đã già
Đã giàu có với bao nhiêu của nả,
nhặt nhạnh dọc trên đường.
Nên hãy đừng mong Ithaca đem đến cho bạn cái gì
Ithaca đã cho bạn một chuyến đi
Không có Ithaca, bạn đã không ra đi
Ithaca không còn gì
để cho bạn nữa.

Nếu bạn thấy Ithaca xấu xí,
Bạn sẽ hiểu rằng Ithaca không hề lừa bạn
Dọc trên đường bạn đã trở thành người thông thái
Dọc trên đường bạn đã có bao nhiêu trải nghiệm
Và bạn đã tâm niệm
Ithaca có nghĩa là gì.

(GS Chau)

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

Warren Buffett chọn cổ phiếu như thế nào?


Từ khoản đầu tư đầu tiên vào năm 1965, sau hơn 4 thập kỷ, Warren Buffett đã có trong tay trên 50 tỷ USD và chưa có nhà đầu tư chứng khoán nào vượt qua ông về khả năng sinh lời cho nguồn vốn.

Khi còn nhỏ, Warren Buffett phụ việc trong cửa hàng thịt nhỏ của ông nội và điều này đã dạy cho nhà tỷ phú tương lai giá trị của làm việc chăm chỉ. Cha của ông là một nhà môi giới chứng khoán, vì thế Buffett có cơ hội tiếp cận với ngành này từ rất sớm. Khi ông khởi nghiệp, đầu tư giá trị là một khái niệm ít được biết đến, và chính nhờ thực hiện đầu tư lâu dài này mà Buffett trở thành nhà đầu tư huyền thoại của thế giới.

"Bí kíp" đầu tư của vị tỷ phú chứng khoán đã được trang tin Forexcare hé lộ.

Warren Buffett từng học ở trường Benjamin Graham và thu nạp được từ đây kiến thức về đầu tư giá trị, một khái niệm vẫn còn mới mẻ ở thời điểm ông khởi nghiệp. Nhà đầu tư giá trị tìm kiếm những cổ phiếu có thị giá thấp hơn giá trị thực của chúng. Thực ra không có công thức cụ thể nào để tính được giá cổ phiếu thấp hơn giá trị thực ở mức nào. Cách phổ biến nhất là đánh giá các yếu tố cơ bản của doanh nghiệp, và nhà đầu tư giá trị sẽ tìm mua những mã mà họ cho rằng phần lớn những người khác không nhìn ra tiềm năng của chúng.

Nhưng Warren Buffett đẩy cách đầu tư này lên một nấc cao hơn, khi ông không chỉ nhìn nhận cổ phiếu đắt hay rẻ dựa vào sự đánh giá của quy luật cung cầu, mà là khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp. Thực tế, nhà đầu tư huyền thoại không hề bận tâm đến hoạt động của thị truờng. Khi đầu tư vào một cổ phiếu nào đó, ông không quan tâm sau vài năm nữa thị trường có nhận ra giá trị của mã đó hay không, mà là trong những năm tới doanh nghiệp này sẽ kiếm ra bao nhiêu tiền.

Dưới đây là 6 câu hỏi Warren Buffett sử dụng hiện thực hoá quan điểm đầu tư giá trị của mình:

1. Công ty có hoạt động ổn định không?

Nhà đầu tư trứơc hết nhìn vào ROE, bởi đôi khi lợi nhuận trên cổ phiếu (ROE) được coi là lợi nhuận mà cổ đông có đựoc từ khoản đầu tư của mình. Nó cho thấy tỷ lệ nhà đầu tư có thể thu lợi từ cổ phiếu. Buffett luôn nhìn vào ROE để biết doanh nghiệp mục tiêu có hoạt động ổn định và có hiệu quả so với các doanh nghiệp cùng ngành hay không.

2. Công ty có tránh được tình trạng nợ quá lớn không?

Tỷ lệ vốn trên cổ phần là một yếu tố quan trọng khác mà Buffett thường xem xét rất kỹ lưỡng. Nhà đầu tư giá trị sẽ tìm mua cổ phiếu của những doanh nghiệp có khoản nợ nhỏ, như vậy có nghĩa là lợi nhuận sẽ chủ yếu bắt nguồn từ vốn của cổ đông chứ không phải từ vốn vay.

3. Biên lợi nhuận có cao không? Có khả năng tăng nữa không?

Khả năng sinh lời của một doanh nghiệp phụ thuộc không chỉ vào biên lợi nhuận tốt mà còn vào mức tăng ổn định của biên lợi nhuận này. Để biết đựoc chính xác sức khỏe của doanh nghiệp, cần nhìn lại biên lợi nhuận trong vòng 5 năm gần nhất. Biên lợi nhuận lớn cho thấy doanh nghiệp hoạt động tốt, và lãnh đạo doanh nghiệp rất có khả năng điều hành và quản lý chi phí.

4. Công ty đã trở thành doanh nghiệp đại chúng bao lâu?

Buffett chỉ quan tâm đến những doanh nghiệp đã chào bán cổ phần rộng rãi được ít nhất 10 năm. Vì thế, những công ty mới thực hiện IPO đều không lọt vào "mắt xanh" của ông. Buffett hoàn toàn có lý do để đưa ra tiêu chí này, bởi nhà đầu tư giá trị chỉ nhắm đến những doanh nghiệp đã được thời gian thử thách và vẫn đang bị thị trường định giá thấp.

5. Sản phẩm của công ty có phụ thuộc vào loại hàng hoá nào không?

Tiêu chí này thoạt nhìn có vẻ cực đoan, nhưng thực tế Buffett thường tránh những doanh nghiệp có sản phẩm kém nổi bật so với các đối thủ cùng ngành và lại phụ thuộc nhiều vào các nguyên nhiên liệu đầu vào như dầu mỏ hay khí đốt. Ông quan niệm, nếu doanh nghiệp không có gì khác biệt so với các đối thủ thì cũng ít có khả năng sinh lời vượt bậc.

6. Giá cổ phiếu có thấp hơn giá trị thực đến 25% không?

Sau khi tìm được những cổ phiếu đáp ứng được cả 5 câu hỏi ở trên, thì nhà đầu tư phải trả lời câu hỏi cuối cùng và cũng là khó nhất này. Phát hiện cổ phiếu đang bị định giá thấp cũng chính là kỹ năng quan trọng nhất của Buffett. Để trả lời câu hỏi này, nhà đầu tư cần phân tích một loạt dữ liệu cơ bản của doanh nghiệp (lợi nhuận, doanh thu và tài sản) và giá trị thanh khoản - doanh nghiệp này có giá bao nhiêu nếu nó được bán lại khi phá sản. Giá trị thanh khoản không bao gồm thương hiệu của doanh nghiệp.

Khi tính xong các giá trị này, Buffett so sánh với vốn hoá hiện tại của doanh nghiệp. Nếu giá trị theo tính toán của ông cao hơn vốn hoá thị trường ít nhất 25% thì đó chính là doanh nghiệp đáng được ông đầu tư. Nghe có vẻ dễ dàng, nhưng toàn bộ bí quyết thành công Warren Buffett lại nằm ở cách ông tính giá trị của những doanh nghiệp trong "tầm ngắm".

Thu Nga
Nguồn: http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/C...9/09/3BA13693/

Brownian motion: Chuyển động Brown

Brownian motion – tiếng Việt: chuyển động Brown – mô phỏng chuyển động của các hạt trong môi trường lỏng (chất lỏng hoặc khí) và cũng là mô hình toán học mô phỏng các chuyển động tương tự.
Đây là một quá trình ngẫu nhiên biến thực duy nhất có các tính chất như sau:
(i) Với mọi t0<t1<…<tn các biến ngẫu nhiên {(Wti-Wti-1), i=1,2,…,n} là độc lập xác suất
(ii) Với mọi 0<s<t, Wt-Ws ~ N(0,t-s)
(iii) Wt là biến liên tục theo thời gian t (-h.c.c.)
(iv) W0=0 (-h.c.c)
Chuyển động Brown được phát hiện lần đầu năm 1827 khi nhà thực vật học người Scotland Robert Brown quan sát sự chuyển động của các hạt phấn hoa trong cốc nước. Chúng liên tục lắc lư, chuyển động một cách ngẫu nhiên và dường như không bao giờ dừng lại ngay cả khi cốc nước được giữ yên gần như tuyệt đối.
Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các giả thuyết cũng như chứng minh sự tồn tại của chuyển động Brown.
  • Năm 1905, A. Einstein bằng những tính toán xác suất thống kê sử dụng thuyết động học phân tử đã giải thích rằng, sự nhảy nhót của các hạt phấn hoa được gây ra bởi chuyển động hỗn độn không ngừng của các phân tử nước. Và ông đã thành lập được những định luật toán học chi phối chuyển động của chúng.
  • Đặc biệt, Nobert Wiener – nhà toán học người Mỹ – đã thực sự chỉ ra sự tồn tại của chuyển động Brown. Để ghi nhận công lao này, một chuyển động Brown đơn giản nhất trong các lớp chuyển động Brown đã được dùng để mang tên ông, gọi là Quá trình Wiener.
Đã có rất nhiều chương trình nghiên cứu về thị trường cổ phiếu được thực hiện và phát triển xoay quanh mô hình chuyển động Brown. Chẳng hạn, theo một phân tích thống kê đối với thị trường cổ phiếu New York được thực hiện bởi R. N. Mantegna, những biến động hàng ngày của chỉ số giá được phân bố theo một phân bố bền Levy và mật độ phổ của chỉ số giá là gần với mật độ phổ trong chuyển động Brown. Một nghiên cứu khác là công trình của William Smith, người đã sử dụng phương pháp chuyển động Brown để phân tích các hiệu ứng ổn định giá trong đầu tư khi nhu cầu là bất định. Ông đã khảo sát các đặc điểm của sự đầu tư khi giá là ngẫu nhiên, ngoài sự phụ thuộc vào giá trần ngoại sinh. Với các phương trình toán học của chuyển động Brown, ông đã tính ra rằng, những điều khiển giá sẽ làm giảm nhẹ sự phản ứng của việc đầu tư đối với những thay đổi về giá, thậm chí cả khi những điều khiển là không bắt buộc. Những kết luận được rút ra có thể áp dụng cho bất cứ trạng thái kinh tế nào liên quan đến những chi phí cho việc điều chỉnh các cổ phiếu khi giá là bất định nhưng phụ thuộc vào sự điều khiển của chính phủ.
Chuyển động Brown là một trong những hiện tượng vật lý được ứng dụng thành công nhất vào ngành kinh tế học, cụ thể là nhánh khoa học tài chính.
* Nguồn: saga.vn, đăng lần đầu ngày 28-5-2007

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Từ Giải Nobel kinh tế 2013 ngẫm đến TTCK Việt Nam: Phải mất 1-3 năm mới định giá chính xác cổ phiếu


Từ Giải Nobel kinh tế 2013 ngẫm đến TTCK Việt Nam: Phải mất 1-3 năm mới định giá chính xác cổ phiếu

Không thể dự báo được chính xác giá trị cổ phiếu, trái phiếu trong ngắn hạn (vài ngày đến vài tuần) nhưng điều này có thể thực hiện được trong khoảng thời gian 3 đến 5 năm.
Hiểu được giá trị tài sản sẽ rất cần thiết cho nhiều quyết định quan trọng không chỉ với nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp mà còn hầu hết mọi người trong cuộc sống hàng ngày. Việc lựa chọn giữa nắm giữ tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc đầu tư cổ phiếu tùy thuộc vào suy nghĩ mỗi người về rủi ro, lợi nhuận gắn liền với mỗi loại hình tiết kiệm và đầu tư kể trên.
Tuy nhiên, vấn đề đạt ra là làm sao xác định được chính xác nhất giá trị tài sản, cổ phiếu, trái phiếu và khoảng thời gian nào thì việc dự báo giá trị đạt được kết quả cao nhất là câu hỏi đặt với nhiều nhà kinh tế và chuyên gia phân tích tài chính có kinh nghiệm. Kết quả chứng minh bằng thực nghiệm được công bố mới đây của ba giáo sư người Mỹ: Eugene Fama, Lars Peter Hansen và Robert Shiller với công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng không thể dự báo được chính xác giá trị cổ phiếu, trái phiếu trong ngắn hạn (vài ngày đến vài tuần) nhưng điều này có thể thực hiện được trong khoảng thời gian 3 đến 5 năm.
Mỗi cổ phiếu chỉ có thể được định giá và đầu tư hiệu quả nhất là trong khung cảnh thời gian phù hợp với môi trường đầu tư của Việt Nam từ 1 – 3 năm.
Như vậy, điều mà có thể sử dụng từ kết quả nghiên cứu thực tiễn này phù hợp với quan điểm đầu tư cổ phiếu và xác định giá cổ phiếu trong trung và dài hạn. Mỗi cổ phiếu chỉ có thể được định giá và đầu tư hiệu quả nhất là trong khung cảnh thời gian phù hợp với môi trường đầu tư của Việt Nam từ 1 – 3 năm.
Nhớ lại thời kỳ hoàng kim của thị trường chứng khoán Việt Nam 2006 – 2007, cổ phiếu tăng ồ ạt. Khi ấy, người ta không cần khái niệm định giá vì như bạn tôi – một người “chơi chứng” từ năm 2004 nói: “định giá xong thì chả còn cơ hội mà mua nữa”. Người ta tranh cướp mua cổ phiếu mà chẳng cần hiểu đó là công ty gì, làm ngành nghề gì, chỉ cần nó có 3 chứ cái và niêm yết. Thế là đủ.
Cái thời kỳ “bát nháo” ấy cũng phải nhanh chóng kết thúc vào năm 2008 nhường chỗ cho 1 chu kỳ có thể nói là “cướp đi tất cả” của nhiều nhà đầu tư say men chiến thắng trước đó. Không có dự báo, không có định giá, thị trường giảm sàn hàng loạt, trắng bảng bên mua. Thậm chí sau 1 tuần giảm sàn liên tiếp, dự báo thị trường sẽ tăng trở lại đôi chút trong tuần sau đó cũng chẳng đúng, bởi thực tế, nhiều cổ phiếu giảm sàn cả tháng.
Trong quá khứ, tại một đất nước phát triển bậc nhất thế giới là Mỹ, Giáo sư Eugen Fama (Đại học Chicago) và đồng nghiệp (1969) đã chỉ ra rằng giá cổ phiếu phản ứng rất nhanh với những tin tức mới, nhưng việc dự báo giá trị cổ phiếu trong ngắn hạn (vài ngày hoặc vài tuần) là dường như không thể. Có vẻ không nhiều nhà đầu tư Việt Nam để ý đến nghiên cứu này.
Sau thời kỳ mất mát, nhà đầu tư có thêm nhiều kinh nghiệm “đau thương”, sự cẩn trọng cũng theo đó tăng lên và việc nghiên cứu, dự báo hay định giá cổ phiếu được nhìn nhận nghiêm túc hơn. Nhưng đợt phục hồi của thị trường chứng khoán năm 2009 lại làm người ta chẳng còn nhớ nhiều đến bài học mất mát trước đó. Mua nhanh, mua ngay và mua đuổi tiếp diễn. Và rồi, khủng hoảng quay lại cuối 2009, thị trường lại lao dốc, hàng loạt nhà đầu tư lại “mất tất cả”.
Một thị trường non trẻ như chứng khoán Việt Nam đã phải trả giá.
Lần này thì không có chuyện coi thường và tham lam nữa. Những dự báo được đưa ra nghiêm túc hơn. Cổ phiếu của công ty có vị thế lớn trong ngành, có nền tảng cơ bản tốt được đặt lên hàng đầu, nhất là khi ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường. Nhưng Fama đã chỉ ra rằng không thể dự báo biến động giá cổ phiếu trong ngắn hạn, vậy trong dài hạn thì sao? Ít nhất cũng phải có một cơ sở gì đó cho việc dự báo để khôi phục niền tin chứ. 
Từ Giải Nobel kinh tế 2013 ngẫm đến TTCK Việt Nam: Phải mất 1-3 năm mới định giá chính xác cổ phiếu (1)
Diễn biến giao dịch của VN-Index và 3 cổ phiếu VNM (tăng 334%), HPG (giảm 4%), SJS (giảm 90%) trong giai đoạn 2007-2013

Và câu trả lời đến từ giáo sư R.Shiller (1981), người đã chỉ ra rằng mặc dù rất khó dự báo biến động giá cổ phiếu trong ngắn hạn, nhưng có thể dự báo chính xác hơn xu hướng của giá cổ phiếu trong khoảng thời gian vài năm (3 – 5 năm).
Đã có thể dự báo tốt hơn trong vài năm sau. Vậy dùng phương pháp nào xác định giá trị tương lai chính xác? CCAPM (1970) được phát triển bởi các nhà khoa học Merton, Lucas và Breeden, đánh giá mối tương quan giữa biến động giá trị tài sản và rủi ro (dựa trên những kết quả của mô hình CAPM được thực hiện bởi Willam Sharpe) là mô hình được nhắc đến nhiều.
Tuy nhiên, năm 1982, Lars Peter Hansen đã giới thiệu mô hình thống kê mới có tên gọi Generalized Method of Moments (GMM) nhằm kiểm nghiệm lại tính xác thực của CCAPM và đi đến kết luận mô hình CCAPM không thể giải thích tốt cho sự biến động của lợi nhuận đầu tư cổ phiếu. Để có sự đánh giá tốt hơn về dự báo lợi nhuận, Fama và Kenneth French “nâng cấp” mô hình khi thêm vào hai nhân tố mới: quy mô công ty và tỷ số giá trị sổ sách công ty so với giá trị thị trường.
Như vậy, nhà đầu tư có thể dựa vào nghiên cứu đã kéo dài hàng chục năm của Eugene Fama, Lars Peter Hansen và Robert Shiller để lựa chọn phương thức xác định giá trị tài sản và dự báo biến động giá trong tương lai
Những kết quả nghiên cứu của Fama, Hansen, Shiller có thể chưa nhận được sự đồng thuận cao về việc lý giải một số kết quả, tuy nhiên, không thể phủ nhận những đóng góp to lớn đối với lý thuyết và ứng dụng trong việc định giá cổ phiếu và đầu tư cổ phiếu hiệu quả trên thị trường chứng khoán:
(i) Giá cổ phiếu phản ứng rất nhanh và nhạy với những thông tin ảnh hưởng tới dòng tiền trong tương lai. Tuy nhiên, việc dự báo giá cổ phiếu trong ngắn hạn là không thể hoặc không chính xác. Đây là điều mà các chuyên gia phân tích tài chính đều gặp phải khi định giá cổ phiếu một doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Trong ngắn hạn, giá cổ phiếu đôi lúc tăng giảm thái quá không phản ánh đúng giá trị thực của cổ phiếu và nhà đầu tư cần nhiều thời gian hơn để xác định giá trị thật ở mức độ cân bằng và ở những thời điểm khách quan.
(ii) Trong trung và dài hạn, việc dự đoán giá cổ phiếu là hoàn toàn có cơ sở với độ giải thích cao hơn. Theo đó, lợi nhuận kỳ vọng từ đầu tư cổ phiếu tại thời điểm “tốt” (chu kỳ kinh tế đạt đỉnh, những chỉ báo liên quan đến định giá như tỷ số giá cổ phiếu/cổ tức cao) có xu hướng thấp hơn lợi nhuận kỳ vọng tại thời điểm “xấu”. Việc dự báo lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai được áp dụng với nhiều loại tài sản bên cạnh cổ phiếu và trái phiếu. Điều này hoàn toàn đúng đắn và phụ hợp với phong cách đầu tư giá trị trong trung và dài hạn. Trong ngắn hạn, nhà đầu tư luôn gặp rủi ro với biến động mạnh giá cổ phiếu và cơ may đầu tư đúng cổ phiếu, đúng thời điểm lại phụ thuộc nhiều tới yếu tố tâm lý và thời điểm đầu tư.
(iii) Những nhân tố mới: quy mô công ty và tỷ lệ giữa giá trị sổ sách so với giá trị thị trường góp phần dự báo lợi nhuận tương lai dựa trên nền tảng mô hình CAPM vốn chỉ sử dụng duy nhất hệ số beta để xác định giá trị tài sản. Để có thể đầu tư hiệu quả, nhà đầu tư cần xác định được giá trị sổ sách thực tế của doanh nghiệp và đánh giá xem giá trị này so với thị giá hiện tại của cổ phiếu có biên độ lớn không. Khoảng chênh lệch dương này càng lớn thì việc đầu tư cổ phiếu càng an toàn. Trong giai đoạn thị trường hiện tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam, có nhiều cổ phiếu có giá trị sổ sách lớn hơn nhiều so với thị giá cổ phiếu.
Đặng Trần Hải Đăng
Trưởng nhóm Nghiên cứu, CTCK Maritime Bank (MSBS)
Theo Trí Thức Tr

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Tại sao giả thuyết thị trường hiệu quả lại xứng đáng đạt giải Nobel

Bất kỳ người nào đi theo giả thuyết của Fama sẽ phát hiện ra "những con chuột" (chạy khỏi tàu) trước khi khủng hoảng tài sản dưới chuẩn xảy ra.
Ít người theo dõi giải Nobel sẽ phải ngạc nhiên về giải thưởng Nobel kinh tế học lại được trao cho Robert Shiller, người đàn ông đã nói với chúng ta rằng các thị trường có thể sôi nổi một cách phi lý. Đã từ lâu người đàn ông này là ứng cử viên sáng giá cho giải Nobel.
Tuy nhiên, ngạc nhiên hơn cả là Eugene Fama, với Lars Peter Hansen – cùng chia sẻ giải thưởng với giáo sư Shiller. Câu chuyện đùa xưa cũ về giải Nobel kinh tế được trao cho hai người đàn ông bất đồng ý kiến: Friedrich von Hayek và Gunnar giờ đây lặp lại giữa giáo sư Fama và Shiller, ít nhất là từ cái nhìn đầu tiên vào giả thuyết của hai nhà kinh tế học này. Giáo sư Fama chỉ ra rằng các thị trường hiệu quả còn giáo sư Shiller cho rằng ngược lại.
Ý tưởng về thị trường hiệu quả đã bị chỉ trích trong vài năm qua, do đó khoảnh khắc vinh quang của Fama dường như chưa đến. 
Niềm tin thị trường tài chính hiệu quả nghe giống như tín điều Thatcher ( cựu nữ thủ tướng Anh giai đoạn chiến tranh lạnh) nhưng nó khá khác với các lý thuyết tài thị trường tài chính như giá cổ phiếu ngày nay phản ảnh mọi thứ chúng ta hiện thời biết về giá của chúng. Không có mặc cả, không dễ dự đoán và không có kế hoạch để kiếm tiền nhanh.
Chúng ta cần phải biết nhiều hơn về ý tưởng của giáo sư Fama. Chúng ta sẽ học được rằng cố gắng để chọn một cổ phiếu giá tốt hoặc kiếm một món vớ bở với tài sản mua để bán/cho thuê (buy-to-let property) sẽ hơi giống với nỗ lực để đứng xếp hàng nhanh nhất trong siêu thị. Hiển nhiên rằng trong một hàng xếp nhanh nhất, mọi người sẽ nhập vào đó và nó sẽ không phải là hàng nhanh nhất trong thời gian dài. Nếu giáo sư Fama đúng với giả thuyết thị trường thực sự hiệu quả và bằng chứng cho thấy có lẽ thị trường hiệu quả thì chúng ta không thể chọn được một khoản đầu tư thông minh ngoại trừ gặp hên bất ngờ.
Đồng thời, không ai có thể đoán trước thị trường sẽ thế nào ngày mai, bởi vì thị trường hiệu quả đã phản ánh mọi thứ chúng ta biết. Giá thay đổi hàng ngày chỉ vì tin tức, không phải do bất kỳ điều gì chúng ta có thể đoán trước vào ngày hôm qua. Hãy nghĩ đến tất cả thời gian chúng ta có thể tiết kiệm bằng cách tảng lờ những dự đoán của các nhà kinh tế học.
Các nhà đầu tư mà tin vào thị trường hiệu quả sẽ kiếm được nhiều tiền hơn hoặc có thể nói là mất ít tiền hơn. 
Họ sẽ không trả những khoản phí lớn cho các nhà quản lý quỹ để chọn được cổ phiếu tốt bởi vì họ không cho rằng các nhà quản lý quỹ có thể chọn được cổ phiểu tốt. 
Họ không quan tâm đến các mục quảng cáo về hoạt động thị trường vừa qua, bởi vì trên thị trường hiệu quả các hoạt động vừa qua thật sự không nói gì về tương lai. 
Họ không cố tính toán thời gian cho thị trường, trong thực tế đó là việc đầu tư ồ ạt vào thời điệm thị trường lên và bán tháo trong thời điểm thị trường xuống – mua cao và bán thấp. Trong thực tế, họ thậm chí không nhìn vào thị trường cổ phiếu làm gì từ ngày này sang ngày khác. Tại sao lại phải bận tâm khi nó sẽ khiến nhà đầu tư rơi vào tình thế lao đao và có khi nếm trái đắng.
Khi giả thuyết của giáo sư Fama lan truyền rộng rãi, chúng đã giúp phổ quát hóa phương pháp đầu tư giá thành thấp nhưng đa dạng và xóa bỏ đi ý tưởng rằng bậc thầy của thị trường tài chính phải được trao giải hậu hĩnh cho khả năng chọn cổ phiếu. Với lòng tin, giáo sư Fama đã dành hàng thập kỷ để tìm kiếm những ngoại lệ cho lý thuyết của chính ông và đã tìm được một số, điểu hình là các công ty nhỏ sẽ tạo ra được khoản lợi nhuận vượt trội sau khi các định giá thị trường của công ty giảm không đồng bộ với các định giá trong sổ sách kế toán.
Trong thời điểm khủng hoảng tài chính, sự đóng góp của giáo sư Shiller cho các tư tưởng kinh tế là điều rõ ràng nhận thấy. Song sự đóng góp của giáo sư Fama tinh tế và khó nhận biết hơn: nếu nhiều nhà đầu tư coi lý thuyết thị trường hiệu quả là một điều nghiêm túc thì họ sẽ hoài nghi các tài sản dưới chuẩn mà bằng cách nào đó đã được đánh giá an toàn và lợi tức cao. Bất kỳ người nào theo giả thuyết của Eugene Fama đều sẽ ngửi thấy "mùi chuột" trước khi khủng hoảng tài sản dưới chuẩn xảy đến.
Nguồn ft