Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

Mô hình MySQL replication và failover:

1. Mô hình MySQL replication và failover:


2. Mô tả hoạt động:
  • Hai server MySQL-1 và MySQL-2 được cấu hình theo mô hình master-master replication hoặc master-slave replication để đảm bảo dữ liệu luôn giống nhau.
  • Đưa MySQL-1 và MySQL-2 vào một cluster gồm có 2 thành phần. Cluster này không share tải, chỉ đảm bảo cho client luôn truy cập được MySQL không bị gián đoạn.
  • MySQL-1 và MySQL-2 được cài đặt heartbeat. MySQL-1 đóng vai trò master, MySQL-2 đóng vai trò slave. (Vì không share tải, nên không có real server).
  • Master và Slave được cấu hình dùng chung một VIP. Khi master sống, VIP này chính là master. Master và slave lắng nghe heartbeat với nhau, khi heartbeat detect master chết, nó sẽ chuyển VIP cho slave.
  • Client chỉ kết nối với VIP, không quan tâm đó thực sự là master hay slave. Dữ liệu luôn được đồng bộ vì đã được cấu hình master-master replication.

3. Các bước cài đặt:
  • Cài đặt, cấu hình mô hình master-slave replication hoặc master-master replication như hướng dẫn ở bài Lab1.
  • Cài đặt, cấu hình mô hình cluster cho MySQL-1 đóng vai trò master, MySQL-2 đóng vai trò slave như hướng dẫn ở bài Lab2. (Lưu ý cluster này chỉ gồm 2 thành phần master & slave, không có các real server).
  • Sau khi hoàn tất mô hình, từ client truy cập vào VIP, gởi request.
  • Test khả năng fail over của mô hình, bằng cách stop heartbeat trên master, khi đó VIP được chuyển sang slave, client vẫn kết nối bình thường.

Triển khai LVS via Direct Routing:

a.Mô hình:
Ở đây, giới thiệu một mô hình chuẩn gồm 4 server: Load balancer Master (Master), Load balancer (Backup), Real1, Real2. Ta test thử với dịch vụ HTTP.
Khi client ở ngoài, gởi request http vào, request sẽ được tiếp nhận bởi Master, sau đó, Master sẽ tiến hành phân chia request cho Real1, và Real2.
Master và Backup sẽ dùng tín hiệu heartbeat để trao đổi với nhau, nếu Master có sự cố, thì Backup sẽ thay thế vai trò của Master, và Master trở thành Backup. Khi Master khắc phục xong sự cố, Backup sẽ nhường lại vai trò cho Master.
Master sẽ dùng ldirectord để monitor Real1 và Real2. Nếu Real1 có sự cố, Master sẽ chỉ chia request cho Real2 và ngược lại. Khi Real1 khắc phục xong sự cố, Master lại tiếp tục chia request cho Real1.
Giả sử hostname của các máy lần lượt là: Master, Backup, Real1, Real2. (Cần dùng lệnh uname –n để xác định chính xác hostname của các máy).
  • Master: eth0: 192.168.1.2, eth1: 172.16.1.2
  • Backup: eth0: 192.168.1.3, eth1: 172.16.1.3
  • Real1: 192.168.1.4
  • Real2: 192.168.1.5
  • VIP: 192.168.1.1 (IP ảo, Client gởi request đến IP này).
  • Master & Backup bắt buộc phải có 2 card mạng: eth0 để lắng nghe request từ bên ngoài, và eth1 để nhận tín hiệu heartbeat với nhau.

Đầu tiên, các bạn làm quen với mô hình chuẩn, gồm đủ các thành phần: Master, Backup, Real1, Real2. Khi đã hiểu nguyên tắc hoạt động, với các bài lab sau, mình sẽ hướng dẫn các bạn cách tinh chỉnh để giảm số server, mà vẫn đảm bảo được ý nghĩ logic của mô hình.
a.Cài đặt:
Cài đặt các gói heartbeat trên Master và Backup bằng lệnh:
# yum install heartbeat*

Hoặc cụ thể hơn, có thể cài đặt tất cả các gói rpm cho Master và Backup theo trình tự sau:

# rpm –ivh heartbeat-pils-1.2.3.cvs.20050927-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh libnet-1.1.2.1-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh perl-Authen-SASL-2.08-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-Convert-ASN1-0.18-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-Net-SSLeay-1.25-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh perl-IO-Socket-SSL-0.96-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-Parse-RecDescent-1.94-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-Mail-IMAPClient-2.2.9-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm -ivh heartbeat-stonith-1.2.3.cvs.20050927-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh perl-XML-NamespaceSupport-1.08-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-XML-SAX-0.12-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-ldap-0.3202-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh heartbeat-1.2.3.cvs.20050927-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh heartbeat-ldirectord-1.2.3.cvs.20050927-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh ipvsadm-1.21-1.rh.el.1.um.1.i386.rpm


Cài đặt các gói sau trên Real1 và Real2:
# rpm –ivh arptables-noarp-addr-0.99.2-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh arptables_jf-0.0.7-0.3E.i386.rpm


Ghi chú: tùy theo cách cài đặt perl kèm theo hệ điều hành ban đầu, các gói perl trên đây có thể thiếu, hoặc có thể thừa. Có thể bổ sung cho đúng với cách cài đặt hệ điều hành. RPM download tại: http://www.ultramonkey.org

b.Các bước cấu hình:
Như đã trình bày, phần cấu hình cho Master sẽ gồm các bước sau:
  • Cấu hình hearbeat để Master và Backup lắng nghe nhau.
  • Cấu hình ldirectord để Master monitor Real1 và Real2
c.Cấu hình heartbeat:
Phần này cấu hình cho cả Master và Backup.

Các file cần cấu hình cho dịch vụ heartbeat là: file ha.cf, haresources, authkeys. Chép các file này vào thư mục /etc/ha.d
cp /usr/share/doc/heartbeat-1.2.3.cvs.20050927/ha.cf /etc/ha.d/
cp /usr/share/doc/heartbeat-1.2.3.cvs.20050927/authkeys /etc/ha.d/
cp /usr/share/doc/heartbeat-1.2.3.cvs.20050927/haresources /etc/ha.d

Sửa các tham số sau trong file ha.cf:
udpport 694 # Port để gởi tín hiệu heartbeat
bcast eth1 # Card mạng để gởi tín hiệu heartbeat
keepalive 2
deadtime 30
initdead 120
node Real1 Real2 ( Sử dụng lệnh uname –n để xác định chính xác tên server real).


Sửa các tham số sau trong file authkeys:
auth 1
1 sha1 lvsvtdns11

Chuẩn bị các script để đặt vào file haresources: ldirectord.cf.

Thêm dòng sau vào file haresources.
Master 192.168.1.1 \
ldirectord::ldirectord.cf \
LVSSyncDaemonSwap::master \

d.Cấu hình ldirectord:
Phần này cấu hình cho cả Master và Backup.
ldirectord cần có file ldirectord.cf. File này có nội dung như sau:

checktimeout=3
checkinterval=5
autoreload=yes
logfile="/var/log/ldirectord.log"

virtual=192.168.1.1:80
real=192.168.1.4:53 gate 5
real=192.168.1.5:53 gate 5
request="/.testpage"
receive="test page"
scheduler=rr
service=http
checkcount=3
protocol=tcp

e.Cầu hình cho Real1, Real2:
  • Trên Real1 và Real2 cần cấu hình dịch vụ http.
  • Tạo một trang web test cho dịch vụ http, đặt trong Document Root.
echo "test page" > .testpage
  • Tạo IP ảo cho các Real1 và Real2:
ifconfig eth0:0 192.168.1.1 netmask 255.255.255.0
  • Chặn ARP trên IP ảo của các Real1 và Real2:
/usr/sbin/arptables-noarp-addr 192.168.1.1 start
/etc/init.d/arptables_jf save
/etc/init.d/arptables_jf restart

f.Test thử cấu hình:
  • Sau khi thực hiện xong các bước cấu hình trên, thực hiện test như sau:
  • Trên Master, thực hiện:
# service heartbeat start
  • Trên Backup, thực hiện:
# service heartbeat start
  • Trên Master, xem kết quả:
# ipvsadm
Nếu hiển thị kết quả bảng phân chia request có IP của Real1, Real2 là đúng.
  • Trên Backup, xem kết quả:
# ipvsadm
Vì backup, lúc này chỉ đang đứng lắng nghe, trên không có bảng phân chia request.
  • Từ Client kết nối dịch vụ http, hoạt động bình thường, dùng lại lệnh ipvsadm trên Master, sẽ thấy request được phân chia cho Real1 hoặc Real2.

Đồng bộ dữ liệu trên 2 Database Server sử dụng MySQL Server

Trong bài viết này, mình sẽ tiếp tục trình bày các để đồng bộ dữ liệu giữa 2 Database Server sử dụng MySQL Server (MySQL Replication), thực hiện trên hệ điều hành CentOS 5.5
Trong mô hình này. Một Server sẽ đóng vai trò là MASTER, Server kia đóng vai trò là SLAVE.

Yêu cầu 2 Server:
  • Đã cài đặt MySQL
Cấu hình chung:
  • Server 1 có địa chỉ IP là: 192.168.1.131
  • Server 2 có địa chỉ IP là: 192.168.1.155
  • Database trên 2 Server cần đồng bộ có tên: dulieumau

1) Cấu hình MASTER (Server1):

Đánh lệnh để sửa lại nội dung file my.cnf

vi /etc/my.cnf
Đầu tiên bạn cần chắc chắn rằng 2 dòng sau của file my.cnf đã được commnet hoặc được xóa bỏ

#skip-networking
#bind-address = 127.0.0.1
Tiếp đó, trong thẻ [mysqld] thêm vào nội dung sau:

log-bin
binlog-do-db=dulieumau
server-id=1
Trong đó binlog-do-db ta cho biết dữ liệu cần đồng bộ.

Sau đó ta khởi động lại MySQL. Gõ lệnh:

service mysqld restart
Tiếp theo, đăng nhập vào MySQL trên Server 1 bằng tài khoản root
mysqld -u root -p


Tạo một user để Server 2 đăng nhập và có thể Replicate
GRANT REPLICATION SLAVE ON *.* TO 'slave'@'%' IDENTIFIED BY '123456';


Trong dòng lệnh trên thì Username là slave1 và mật khẩu là 123456
Để đảm bảo tính nhất quán dữ liệu giữa 2 database trên Server1 và Server2. Ta tiến hành ngưng các tác động làm thay đổi cơ sở dữ liệu.

FLUSH TABLES WITH READ LOCK;
Tiếp tục, Xem file log của cơ sỡ dữ liệu "dulieumau" hiện tại để slave biết bắt đầu replicate tại thời điểm nào.

SHOW MASTER STATUS;
Ví dụ ở đây ta có kết quả như hình dưới đây.


Chúng ta cần lưu lại 2 tham số của cột File và Position để cấu hình cho SLAVE.

2) Cấu hình SLAVE (Server 2):
Chú ý: Nếu như trước khi bạn thiết lập Replication này mà database cần Replicate của bạn đã có sẵn dữ liệu trên Server 1 thì bạn cần sao chép database này sang Server 2!
Bạn có thể thực hiện việc này bằng cách sao lưu và backup bằng tay từ server 1 sang server 2 hoặc có thể đánh lệnh sau trong server 2
LOAD DATA FROM MASTER;
==> Đảm bảo trước khi cấu hình đồng bộ hóa thì database ở 2 server là giống nhau!

Trên SLAVE  mở và thêm đoạn sau vào nội dung file my.cnf
server-id=2
master-host=192.168.1.131
master-user=slave1
master-password=123456
master-port=3306
master-connect-retry=60
replicate-do-db= dulieumau

Trong đó:
  • master-host= IP hoặc domain của MASTER
  • master-user= Tài khoản để SLAVE đăng nhập vào MASTER được tạo ở bước trên
  • master-password= là mật khẩu của User đó
Sau đó khởi động lại MySQL:

service mysqld restart
Đăng nhập vào MySQL bằng quyền root:

mysql -u root -p
Nếu Server 2 hiện đang là 1 SLAVE đang hoạt động thì ta tạm dừng nó lại:
SLAVE STOP;
Cấu hình những thông tin cần thiết để SLAVE giao tiếp được với MASTER:
CHANGE MASTER TO
-> MASTER_HOST='192.168.1.155',
-> MASTER_USER='slave1',
-> MASTER_PASSWORD='123456',
-> MASTER_LOG_FILE='mysqld-bin.000001',
-> MASTER_LOG_POS=98;

với MASTER_LOG_FILEMASTER_LOG_POS là hai tham số có giá trị được ta lưu lại ở bước phía trên!

Khởi động lại SLAVE:

SLAVE START;


Giải phóng các Tables trên MASTER (Server 1)

3) Testing:
Khi ta tiến hành thay đổi dữ liệu trên dulieumau ở Server 1 thì dulieumau trên Server 2 cũng thay đổi theo y như vậy! ==> Thành công!




* Một số lệnh để xem logs và kiểm tra hoạt động trên MASTER và SLAVE:
-------- MASTER:
mysql> SHOW GRANTS FOR repl;
mysql> SHOW MASTER LOGS \G
mysql> SHOW BINARY LOGS;
mysql> SHOW MASTER STATUS;
mysql> RESET MASTER ---> ( CAUTON !!! )
-------- SLAVE:
mysql> SHOW SLAVE STATUS;
mysql> STOP SLAVE;
mysql> START SLAVE;
mysql> RESET SLAVE;


4) MySQL Replication theo 2 chiều:
Các bước cấu hình mình đã trình bày ở trên sẽ giúp đồng bộ dữ liệu mỗi khi Database trên Server 1 được thay đổi. Tuy nhiên nếu dữ liệu ở trên Server 2 thay đổi thì Server 1 không có được những thay đổi này! Đó là replication một chiều (MASTER --> SLAVE)
Để có thể replication chiều (MASTER <--> MASTER) ta tiến hành cấu hình 2 mô hình MASTER-SLAVE replication lồng vào nhau:
Bước 1: Server 1 là MASTER, server 2 là SLAVE
Bước 2: Server 1 là SLAVE, server 2 là MASTER

2 bước này cấu hình hoàn toàn tương tự như mình đã trình bày ở bên trên!

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Tính toán nhu cầu làm lạnh cho trung tâm dữ liệu (Data Center)

GIỚI THIỆU

Tất cả các thiết bị điện tử khi hoạt động đều sinh ra nhiệt, và chúng ta cần ngăn chặn sự quá nhiệt làm cho thiết bị hư hỏng. Hấu hết các thiết bị công nghệ thông tin và các thiết bị khác trong trung tâm dữ liệu hoặc phòng máy tính được làm mát bằng không khí. Việc tính toán hệ thống làm mát đòi hỏi một sự hiểu biết về lượng nhiệt được sinh ra bởi thiết bị bên trong một không gian “đóng”, cùng với lượng nhiệt được sinh ra bởi các nguồn nhiệt thường gặp khác.


ĐO LƯỜNG NHIỆT PHÁT SINH


Nhiệt là một dạng năng lượng và được biểu diễn chung bằng các đơn vị như Joules, BTU, Tons và Calories. Thông thường, trị số phát sinh nhiệt của thiết bị được tính bằng BTU/giờ, Tons/ngày và Joules/giây (tương đương Watts). Không có lý do thuyết phục nào giải thích tại sao tất cả những đơn vị đo lường khác nhau này được sử dụng để biểu thị cùng một thứ, vậy mà còn có thể được sử dụng để biểu thị năng lượng và khả năng làm lạnh. Việc sử dụng lẫn lộn các đơn vị đo lường này có thể gây ra rất nhiều nhầm lẫn tai hại cho người dùng và các chuyên viên. May mắn thay, có một xu thế toàn cầu giữa các tổ chức thiết lập tiêu chuẩn để chuyển tất cả đo lường về năng lượng và khả năng làm lạnh về cùng một tiêu chuẩn, chính là đơn vị Watt. Các đơn vị cổ xưa như BTU và Tons sẽ dần rút lui theo thời gian.


Chính vì những lý do trên, bài viết này sẽ bàn luận thêm về khả năng cấp nguồn và làm lạnh với đơn vị Watt. Việc sử dụng Watts như là tiêu chuẩn chung là một sự tình cờ, bởi vì nó làm đơn giản hoá liên kết công việc với thiết kế trung tâm dữ liệu vốn sẽ được giải thích sau.


Ở khu vực Bắc Mỹ, chi tiết kỹ thuật về khả năng cấp nguồn và làm lạnh vẫn thường được cung cấp dưới các đơn vị cổ điển là BTU và Tons. Vì vậy, để các bạn dễ tham khảo, tôi xin cung cấp một vài tỉ lệ chuyển đổi đơn vị như sau:

BTU/giờ = Watt x 3.41 (hoặc Watt = BTU/giờ x 0.293)
Tons = Watt x 0.000283 (hoặc Watt = Tons x 3.53)
Năng lượng do máy tính và các thiết bị công nghệ thông tin khác truyền qua đường dữ liệu là không đáng kể. Bởi vậy, năng lượng tiêu thụ từ đường dây nguồn AC về cơ bản là được chuyển toàn bộ thành nhiệt. Việc này cho phép chúng ta xem như lượng nhiệt phát sinh của thiết bị IT (tính bằng Watt) đơn giản là bằng với chính công suất tiêu thụ của nó (tính bằng Watt). BTU/giờ, đôi khi được cung cấp trong datasheet của thiết bị, không cần thiết trong việc xác định lượng nhiệt phát sinh bởi thiết bị. Một lần nữa, lượng nhiệt phát sinh bằng chính công suất đầu vào.

Lưu ý: có một ngoại lệ cho nguyên tắc này là trường hợp Router VoIP. Có thể lên đến 30% nguồn tiêu thụ của router được truyền cho thiết bị đầu cuối, do đó tải nhiệt của router có thể thấp hơn lượng điện năng mà nó tiêu thụ.



XÁC ĐỊNH LƯỢNG NHIỆT PHÁT SINH CỦA MỘT HỆ THỐNG HOÀN CHỈNH

Lượng nhiệt phát sinh của toàn bộ hệ thống chính là tổng lượng nhiệt phát sinh của các thành phần bên trong đó. Hệ thống hoàn chỉnh bao gồm các thiết bị IT, cộng thêm các yếu tố khác như UPS, Power Distribution, Air Conditioning Unit, đèn chiếu sáng và cả con người. Các bạn đừng lo lắng khi thấy vấn đề có vẻ phức tạp, thật ra thì trị số phát sinh nhiệt của các yếu tố đó có thể được xác định dễ dàng thông qua các quy tắc đã được chuẩn hoá và đơn giản.

Phát sinh nhiệt của UPS và hệ thống phân phối nguồn bao gồm một tổn thất cố định và một tổn thất tỉ lệ thuận với nguồn hoạt động. Những tổn thất này là như nhau đối với các nhãn hiệu và model thiết bị hoặc xấp xỉ nhau mà không gây ra lỗi đáng kể. Hệ thống chiếu sáng và con người cũng có thể được ước lượng một cách dễ dàng với các giá trị tiêu chuẩn. Thông tin duy nhất được đòi hỏi để xác định tải lạnh cho hệ thống hoàn chỉnh là một vài giá trị có sẵn, ví dụ như diện tích sàn và trị số của hệ thống nguồn điện.

Bản thân thiết bị làm lạnh cũng tạo ra một lượng nhiệt đáng kể từ quạt và máy nén. Lượng nhiệt này được thải ra bên ngoài và không tạo nên một tải nhiệt bên trong data center. Tuy nhiên, nó vẫn làm giảm đi hiệu suất của máy lạnh và và thường được được tính vào khi máy lạnh được định cỡ.

Một phân tích nhiệt chi tiết sử dụng dữ liệu về phát sinh nhiệt của mọi yếu tố trong data center là có thể, nhưng một sự ước lượng nhanh sử dụng các quy tắc cơ bản cũng đem lại kết quả với sai số nằm trong giới hạn cho phép của phân tích phức tạp hơn. Ước lượng nhanh cũng có ưu điểm là nó có thể được thực hiện bởi bất kỳ ai mà không đòi hỏi phải đào tạo hay những kiến thức chuyên môn phức tạp.
Để tính toán nhanh tải nhiệt, chúng ta sử dụng bảng bên dưới, nó cho phép xác định tổng phát sinh nhiệt của trung tâm dữ liệu một cách nhanh chóng và đáng tin cậy.




(*): nếu hệ thống UPS thiết kế theo kiểu redundant thì không cộng vào công suất của các UPS dự phòng. Ví dụ: hệ thống gồm 2 UPS có công suất 25kW/UPS chạy redundant ở chế độ N+1 thì chỉ tính công suất là 25kW chứ không phải 50kW.

VÍ DỤ VỀ MỘT HỆ THỐNG TIÊU BIỂU

Chúng ta lấy ví dụ về một trung tâm dữ liệu rộng 5000ft² (465m²) có công suất 250kW với 150 tủ rack, số lượng nhân viên tối đa là 20 người. Trong ví dụ này, giả định rằng data center hoạt động ở mức 30% công suất. Tổng tải của thiết bị IT trong trường hợp này là 30% của 250kW, tức là 75kW. Dưới điều kiện thông thường, tổng phát sinh nhiệt của data center là xấp xỉ 105kW, cao hơn tải thiết bị IT khoảng 50%.

Trong ví dụ tiêu biểu này, tỉ lệ tham gia của các thành phần khác nhau vào tổng phát sinh nhiệt của data center được thể hiện theo biểu đồ bên dưới.




Ghi chú: tỉ lệ phát sinh nhiệt của UPS và thiết bị phân phối nguồn trong biểu đồ trên chỉ áp dụng trong trường hợp hệ thống hoạt động ở 30% công suất. Nếu hệ thống hoạt động ở 100% công suất, hiệu suất của hệ thống nguồn sẽ tăng lên và tỉ lệ góp phần phát sinh nhiệt của chúng sẽ giảm đi. Tổn thất đáng kể về hiệu suất này thật sự là lãng phí của một hệ thống quá cỡ (để hiểu thêm về vấn đề này, các bạn có thể tham khảo White Paper số 37 của hãng APC: “Avoiding Costs From Oversizing Data Center and Network Room Infrastructure”).

NHỮNG NGUỒN NHIỆT KHÁC

Các phân tích trước đây thường bỏ qua các yếu tố môi trường, ví dụ như ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ hoặc nhiệt được dẫn vào từ vách ngoài. Nhiều trung tâm dữ liệu nhỏ và phòng máy tính không có vách hoặc cửa sổ tiếp giáp trực tiếp với môi trường ngoài (do nằm bên trong một toà nhà), do đó sẽ không có vấn đề nếu bỏ qua yếu tố môi trường. Tuy nhiên, đối với trung tâm dữ liệu lớn có vách hoặc mái phơi bày trực tiếp ra ngoài, các nguồn nhiệt bổ sung xâm nhập vào data center cần phải được loại bỏ bởi hệ thống điều hoà nhiệt độ.

Nếu phòng dữ liệu được đặt bên trong phạm vi của một thiết bị điều hoà nhiệt độ, các nguồn nhiệt khác có thể được bỏ qua. Nếu data center có vách và trần phơi bày ra ngoài một cách đáng kể, nhà tư vấn về HVAC (Heating/Ventilation/Air Conditioning) cần phải đánh giá lượng nhiệt bổ sung này và cộng nó vào tổng lượng nhiệt phát sinh của hệ thống đã được xác định như ở phần trên.

ĐỘ ẨM

Không chỉ kiểm soát nhiệt độ, một hệ thống điều hoà không khí cho trung tâm dữ liệu còn kiểm soát cả độ ẩm. Một cách lý tưởng, khi đã đạt được độ ẩm theo yêu cầu, hệ thống sẽ hoạt động với một lượng hơi nước không đổi trong không khí và không cần sự tác động về độ ẩm. Nhưng thật không may, trong hầu hết các hệ thống điều hoà không khí, chức năng làm lạnh không khí gây ra sự ngưng tụ hơi nước đáng kể, hậu quả là độ ẩm trong không khí sẽ bị giảm. Vì thế, việc làm ẩm bổ sung là cần thiết để duy trì độ ẩm ở mức được yêu cầu.

Việc làm ẩm bổ sung tạo ra thêm tải nhiệt trên hệ thống CRAC (Computer Room Air Conditioning), làm giảm khả năng làm lạnh của hệ thống một cách rõ rệt. Vì vậy cần phải xem xét yếu tố này khi tính toán công suất hệ thống.

Với các phòng máy tính nhỏ, một hệ thống điều hoà không khí có cách ly lượng khí hồi về với lượng khí cấp ra bằng cách sử dụng hệ đường ống có thể hạn chế được sự ngưng tụ hơi nước, do đó không cần phải bổ sung độ ẩm liên tục. Điều này cho phép tận dụng 100% công suất và đạt hiệu suất làm lạnh tối đa.

Đối với các trung tâm dữ liệu lớn với một lượng lớn không khí trộn lẫn với nhau, hệ thống CRAC phải cung cấp không khí ở nhiệt độ thấp để khắc phục ảnh hưởng tuần hoàn của không khí nhiệt độ cao thoát ra từ thiết bị. Điều này làm giảm độ ẩm không khí đáng kể và đòi hỏi sự làm ẩm bổ sung. Do đó, năng suất và hiệu suất của hệ thống điều hoà không khí bị giảm đi đáng kể, công suất của hệ thống CRAC phải được tính toán tăng thêm khoảng 30% so với bình thường.
Để hiểu thêm về vấn đề độ ẩm trong trung tâm dữ liệu, các bạn có thể tham khảo White Paper số 58 của hãng APC: “Humidification Strategies for Data Centers and Network Rooms”.

ĐỊNH CỠ HỆ THỐNG ĐIỀU HOÀ KHÔNG KHÍ

Một khi nhu cầu làm lạnh đã được xác định, chúng ta có thể định cỡ (sizing) một hệ thống điều hoà không khí. Những yếu tố sau đây, vốn đã được mô tả ở phía trên, cần được quan tâm;
  • Mức tải lạnh của thiết bị (bao gồm cả thiết bị cấp nguồn).
  • Mức tải lạnh của toà nhà.
  • Mức độ ảnh hưởng của độ ẩm.
  • Yếu tố redundancy.
  • Nhu cầu tăng thêm trong tương lai.
KẾT LUẬN

Việc xác định nhu cầu làm lạnh của các hệ thống IT có thể quy thành một tiến trình đơn giản để bất kỳ ai cũng thực hiện được mà không cần phải đào tạo nhiều. Việc biểu thị tất cả đo lường của nguồn điện và làm lạnh bằng đơn vị Watt là yếu tố giúp đơn giản hoá tiến trình. Một nguyên tắc chung là công suất cực đại của hệ thống CRAC nên bằng 1.3 lần tổng công suất thiết bị IT cộng với các khoản dự phòng khác. Phương pháp này cho kết quả đúng với trung tâm dữ liệu có diện tích dưới 4000ft² (tương đương 372m²).

Đối với các trung tâm dữ liệu lớn hơn, chỉ đơn thuần dựa vào công suất tiêu thụ của thiết bị IT thì chưa đủ để chọn được hệ thống máy lạnh. Ảnh hưởng của các nguồn nhiệt khác như vách tường và trần nhà cùng với sự tuần hoàn của dòng khí là đáng kể và cần được xem xét cho từng trường hợp lắp đặt cụ thể.

Thiết kế của hệ đường ống dẫn khí hoặc sàn nâng kỹ thuật cũng tác động đáng kể lên hiệu suất chung của hệ thống, đồng thời tác động lớn đến tính chất đều của nhiệt độ bên trong trung tâm dữ liệu. Sự tuân theo kiến trúc hệ thống phân phối khí dạng mô-đun, đơn giản và được chuẩn hoá, kết hợp với phương pháp ước lượng tải nhiệt đơn giản đã được mô tả, có thể làm giảm đáng kể những đòi hỏi về kiến thức chuyên ngành trong việc thiết kế trung tâm dữ liệu.
 
(sưu tầm) 

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

Hệ thống nguồn điện cho Datacenter


Hệ thống nguồn điện cho Datacenter
a. Sơ đồ thiết kế
Chúng ta quan tâm đến 4 hệ thống: Máy phát điện, hệ thống lưu điện UPS, Hệ thống phân phối điện chính và hệ thống phân phối điện trong tủ Rack.
Nguồn ngõ vào: Trạm biến áp + Máy phát điện
Đề xuất này sử dụng 01 mạng điện độc lập để hỗ trợ hệ thống cơ sở hạ tầng của IT và mạng điện này lại được dự phòng bởi máy phát điện (công suất được thiết kế đủ cung cấp cho toàn hệ thống DC).
Hệ thống phân phối điện độc lập sẽ được lắp đặt nhằm phân tích hệ thống nguồn cho phòng máy chủ ra khỏi nguồn cho các ứng dụng khác như chiếu sáng, điều hoà hay mục đích khác.
Máy phát điện: nguồn điện dự phòng cho hệ thống khi điện lưới bị gián đoạn. Đây cũng là một phần tử bắt buộc trong hệ thống nguồn của DC vì dù ở bất kỳ cấp độ nào DC cũng không được phép gián đoạn nguồn điện trong thời gian dài.
ATS (Automatic Transfer Switch): thiết bị tự động chuyển đổi giữa nguồn điện lưới sang nguồn điện từ máy phát điện khi có sự gián đoạn điện lưới và chuyển ngược về nguồn điện lưới khi nguồn được cấp trở lại. Trên thực tế một số DC cấp độ thấp cũng không cần thiết bị này, khi đó cần có sự can thiệp của con người trong quá trình chuyển đổi qua lại giữa các nguồn điện
Tủ phân phối điện (PDU) của APC được thiết kế với hệ thống “nối tắt” (By-pass) nhằm tách biệt UPS ra khỏi hệ thống tải quan trọng khi cần thiết. Các aptomat được sử dụng loại đặc biệt loại C (Type”C”) có thời gian trễ và được bảo vệ chống dòng rò (current leaking to earth from an installation) – ELCB. Trong trường hợp có sự cố ở mạch nhánh nào thì aptomat của nhánh đó sẽ cắt điện chỉ của nhánh đó thôi mà không làm ảnh hưởng đến các nhánh khác (hay nói cách khác không làm ảnh hưởng toàn bộ hệ thống).
Thêm nữa với tính năng theo dõi dòng điện mạch nhánh một cách thông minh, khách hàng có thể biết được tình trạng dòng điện chạy qua mỗi một mạch nhánh thông qua giải pháp quản trị của APC cũng như có thể  đặt mức ngưỡng cảnh báo trước khi mỗi mạch nhánh tiến  đến ngưỡng nguy hiểm.
- Trong tủ phân phối điện, chúng tôi cung cấp 10 aptomat loại 32A, 30mA cho 10 tủ Rack máy chủ, 3 aptomat loại 16A, 30mA cho các thiết bị phụ trợ khác như IP camera, Access Control,Fire
Suppression cùng với các cáp  điện có lăp sẵn các phích cắm (power whips terminate with industrial sockets) có độ dài đủ cung cấp đến từng tủ Rack thiết bị. Thiết bị này cho phép sự mềm dẻo cho việc nâng cấp hay mở rộng trong tương lai mà không làm ảnh hưởng đến nguồn cung cấp. Mỗi tủ phân phối điện (PDU) sẽ có đủ các vị trí để lắp  thêm các aptomat cho nhu cầu trong tương lai mà không làm ảnh hưởng gián đoạn tới nguồn cung cấp chính.
- Tủ phân phối điện PDU của APC được đặt trong tủ Rack có cửa trước và sau thuận tiện cho công việc dich vụ. Với tủ phân phối điện này, không cần thiết phải lắp thêm các bảng phân phối phụ (treo) trong phòng máy chủ nữa.
RPDU: Hệ thống phân phối nguồn trong tủ Rack
Sẽ sử dụng 1 khối phân phối nguồn (viết tắt RPDU) loại 32A cho mỗi tủ Rack máy chủ, các RPDU sẽ được nối với UPS trong cấu hình (N+1). Thêm nữa, mỗi RPDU sẽ có màn hành tinh  thể lỏng (LCD) thể hiện dòng điện đang chạy qua mỗi RPDU đồng thời cho phép người sử dụng biết có
Các thiết bị quan trọng như IP camera, Access Control, Fire Suppression bình thường sẽ được cung cấp điện từ hệ thống lưới điện thông thường. Khi có sự cố với lưới điện, các thiết bị này sẽ được cấp điện từ UPS.
Một số hình ảnh về socket nguồn cung cấp điện cho thiết bị như sau:
http://seablogs.zenfs.com/u/VE_25mSKGQM2HQe61LIVvQ--/photo/ap_20090929094035334.jpg
Để đáp ứng các chuẩn đa dạng này, như đã trình bày ở trên ta có thể sử dụng các loại rack PDU như sau:  
http://seablogs.zenfs.com/u/VE_25mSKGQM2HQe61LIVvQ--/photo/ap_20090929094018355.jpg
Các loại rack PDU này thông thường tập trung cho 2 chủng loại chính là gắn dọc tủ rack (vertical zero U mounted) và gắn ngang như các thiết bị thông thường.
Để kết nối vào nguồn điện từ tủ phân phối thông thường sử dụng 2 loại socket công suất cao, phổ biến nhất là loại IEC- IP44 32A:  
http://seablogs.zenfs.com/u/VE_25mSKGQM2HQe61LIVvQ--/photo/ap_20090929094027421.jpg





9 vấn đề chất lượng nguồn điện
http://www.pcworld.com.vn/pcworld/info/misc/2009/11/B0911_81a.jpg
Người Mỹ rất thực tế! Họ nghiên cứu về “chất lượng nguồn điện” từ rất sớm và hàng năm đều thống kê tổn thất do “chất lượng nguồn điện” xấu gây ra cho nền kinh tế nước này. Năm 2001, mức tổn thất khoảng 188 tỷ USD. Vì sự quan trọng đó, thị trường “chất lượng nguồn điện” của Mỹ tăng trưởng đạt 11%/ năm, trong đó: UPS chiếm 70% thị phần; thiết bị triệt xung đột biến điện (TVSSs) chiếm 20% thị phần; Thiết bị giám sát và đo điện chiếm 8% thị phần.

Chúng ta sẽ phải trả giá đắt cho nguồn điện có chất lượng kém. Thông thường, nguồn điện chất lượng kém sẽ gặp 9 hiện tượng thông dụng sau:

Cúp điện: làm gián đoạn sản xuất, mất thời gian và hao phí lương. Nguyên nhân, do lỗi ở trạm phát điện, hư hỏng trên đường dây, chập mạch hoặc quá tải, thiếu điện… Khắc phục bằng cách sử dụng máy phát điện trong trường hợp mất điện hơn 20 phút trở lên, để duy trì nguồn điện liên tục sau khi mất điện trong 20 phút đầu sẽ phải dùng UPS.

Giảm áp tạm thời (Power Sag) dẫn đến hư dữ liệu, hư phần cứng, đèn bị chớp nháy, thiết bị tắt vì điện không đủ đáp ứng… Nguyên nhân do khởi động tải lớn, chuyển mạch điện hệ thống, hư thiết bị chuyển mạch, dịch vụ điện kém… Khắc phục bằng cách dùng UPS và ổn áp có khả năng điều chỉnh sự giảm áp tạm thời.

Xung đột biến điện (Power Surge)
là sự gián đoạn trong một chu kỳ sóng sine chuẩn với cường độ rất cao, tăng áp trong thời gian ngắn, mất dữ liệu bộ nhớ, lỗi dữ liệu, hư thiết bị, hư mạch. Nguyên nhân do sét đánh, bật tắt thiết bị lớn, vận hành hệ thống chiếu sáng, các lỗi hệ thống phân phối điện…

Giảm áp (Undervoltage) có điện áp dưới 90% điện áp chuẩn, kéo dài nên gây hiện tượng thiếu điện (Brown-out) làm thiết bị giảm tuổi thọ, hư hỏng do nhiệt độ tăng cao... Nguyên nhân do thời tiết, nhu cầu sử dụng điện cao quá, mất pha, chính sách của công ty phân phối điện trong giờ cao điểm..

Quá áp (Over-Voltage) hơn 2 chu kỳ có mức điện áp trên 110% điện áp chuẩn, gần với xung đột biến điện nhưng thời gian dài hơn, bao gồm nhiều hiện tượng đột biến điện, gây hư hỏng nặng cho môtơ và máy vi tính, làm bộ nhớ bị hư/mất dữ liệu, tăng nguy cơ cháy nổ… Nguyên nhân do lỗi ở hệ thống phân phối điện, sự sụt tải lớn, thay đổi cảm kháng khi chuyển mạch, bão mặt trời… Cách khắc phục, dùng các thiết bị ổn định điện như ổn áp.

Nhiễu đường dây (Line Noise) là nguyên nhân chủ yếu gây lỗi máy tính, hư và mất dữ liệu… Hiện tượng này xảy ra do môtơ điện công suất lớn, bão điện từ, ứng dụng phát sóng, thiết bị HVAC (hệ thống điện lạnh, thông gió) vận hành. Dùng bộ lọc và ổn áp sẽ hạn chế được vấn đề này.

Biến đổi tần số (Frequency Variation). Sự thay đổi tần số điện dẫn đến mất dữ liệu, hệ thống bị đụng (crashes), hư thiết bị. Nguyên nhân có thể do máy phát điện không ổn định, do nhà cung cấp điện, vì vậy cần xem lại chất lượng máy phát điện và dùng UPS tốt.

Xung đột biến điện do chuyển mạch (Switching Transients) là các xung điện áp lớn, xuất hiện nhanh và nhiều (kéo dài) hơn các xung đột biến đơn bình thường, dễ thấy nhất là việc phát tia lửa điện khi cắm điện, bật tắt công tắc, gây mất dữ liệu, thiết bị quá tải nhiệt (heat stress). Nguyên nhân, do xả tĩnh điện, chuyển mạch trên đường dây, sự tương tác chuyển đổi năng lượng phức tạp trong hệ thống điện. Dùng thiết bị triệt xung đột biến điện (TVSS – Transient Voltage Surge Suppression) hay thường gọi là thiết bị lọc sét (SPD - Surge Protection Device) sẽ giải quyết được vấn đề.

Sóng hài (Harmonic Distortion) là sự thay đổi tần số điện dưới dạng bội số của tần số sóng sine cơ bản, sinh ra nhiệt cao gây hư hỏng thiết bị, hỏa hoạn và nguy cơ cháy nổ, âm thầm diễn biến trong nhiều năm mà rất khó bị phát hiện. Nguyên nhân do ứng dụng có nhiều máy vi tính là những tải phi tuyến, động cơ biến tần, lây từ nguồn điện lưới bên ngoài...
Thiệt hại do điện gây ra
http://www.pcworld.com.vn/pcworld/info/misc/2009/11/B0911_82a.jpg
1. Thiệt hại do gián đoạn: Sự gián đoạn là không lường trước được. Tại Mỹ số trường hợp gián đoạn về điện có xu hướng tăng theo sự phát triển của nhân loại. Thống kê chi phí mà các ngành công nghiệp khác nhau của Mỹ phải chịu trong một giờ ngưng vận hành như sau: ngành năng lượng là 30,8 tỷ đồng, viễn thông 22 tỷ đồng, sản xuất 17,6 tỷ đồng… Trung bình, tổn thất tại Mỹ là trên 3 triệu đồng/giây. Thống kê năm 2007 cho thấy, 4/5 DN bị thiếu hụt về điện và 42% phải đóng cửa ít nhất 1 ngày. Mặc dù chủ DN biết đây là một mối đe dọa lớn nhưng chỉ 40% sẵn sàng đầu tư để giải quyết vấn đề.

Ví dụ về tổn thất gián đoạn trong DN nhỏ tại Mỹ: năm 2007, mức lương trung bình/giờ là gần 300 ngàn đồng. Một DN trung bình có 19,5 nhân viên sẽ chịu tổn thất lương là 3,7 triệu đồng/giờ. Chi phí doanh thu mất đi cho một nhân viên ở không xấp xỉ là 2,3 triệu đồng/giờ, nếu nhân với số lượng nhân viên bên trên và tỉ lệ thời gian gián đoạn trung bình trong một năm sẽ có con số tổn thất là 4,1 tỷ đồng/năm.

2. Thiệt hại do thiết bị: Trong 30 năm qua, công nghệ đã tiến những bước dài. Các chíp vi xử lý đã giảm đáng kể về kích thước nhưng lại tăng đáng kể về tốc độ xử lý. Khi chíp ngày càng nhỏ hơn, điện áp đòi hỏi cũng phải giảm tương ứng. Nhưng hệ thống cấp điện của bạn 30 năm rồi có thay đổi không? Điện áp sinh hoạt 110V/220V của bạn có giảm theo không? Vậy tại sao phải lưu ý về việc này? Đó là vì các chíp vi xử lý ngày càng chiếm tỉ lệ cao và quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.

Tổ chức “Computer Technology Review” đã thống kê: 80% lỗi máy tính là do điện kém chất lượng gây ra và có thể khắc phục được bằng cách sử dụng đúng thiết bị ổn định chất lượng nguồn điện.
Cách bảo vệ các tải và thiết bị nhạy cảm

1. Lựa chọn đúng đơn vị tư vấn thiết kế khi đã quyết định phải đầu tư vào giải pháp nguồn để bảo vệ việc kinh doanh của bạn. Đầu tiên phải xem thiết bị cần bảo vệ có tầm quan trọng như thế nào và có ảnh hưởng ra sao đến năng suất và lợi nhuận. Sau đó đưa ra các chỉ tiêu (ví dụ: tôi cần hệ thống vận hành liên tục ở mức 99%, 99,9% hay 99,999%…) mà bạn mong muốn từ đơn vị tư vấn hay nhà cung cấp. Tiếp theo, bạn cần trang bị cho mình một số nguyên tắc lựa chọn sản phẩm họ đề xuất để tránh sai lầm, ân hận về sau.

2. Dùng thiết bị cho đúng: Hệ thống lớn không thể thiếu UPS nhưng một thiết bị triệt xung đột biến điện 10 triệu đồng đôi khi lại hiệu quả hơn hệ thống 2 UPS 300 triệu đồng. Thiết bị triệt xung đột biến điện cần trong trường hợp chống xung đột biến điện (transient), vì các UPS không thể bảo vệ tải của bạn triệt để trước xung đột biến điện và sóng hài. Một máy biến áp triệt sóng hài chuyên dụng tuy đắt hơn các máy biến áp K-rate 30% nhưng lại cho hiệu suất vận hành cao hơn đến 50%…

Các hệ thống thông thường không khớp nhau, vì vậy chúng ta phải có nhiều hệ thống để bảo vệ các tải và thiết bị nhạy cảm. Khi các hệ thống, thiết bị này ráp lại với nhau trong một tổng thể hài hòa thì năng suất và lợi nhuận của bạn sẽ tăng đáng kể cho việc giảm chi phí thay thế, sửa chữa, bảo trì và gián đoạn trong sản xuất đến mức thấp nhất.

3. Chọn nhà sản xuất: Khi chọn nhà sản xuất, so sánh yếu tố năng lượng chuyển đổi (power rating) - công suất chuyển từ điện năng năng lượng khác như ánh sáng, nhiệt, chuyển động…) và phương pháp kiểm tra sản phẩm mà họ tuyên bố trong tài liệu kỹ thuật là rất quan trọng. Với UPS, thời gian backup của pin là quan trọng nên bạn cần xem xét hệ thống nào có khả năng chịu tải khi vận hành càng cao càng tốt và có thể mở rộng được. Đối với thiết bị lọc sét và xung đột biến điện, kiếm những sản phẩm cho điện áp dư/điện áp cho qua (Let-Through-Voltage) được kiểm chứng thấp nhất và thời gian bảo hành lâu nhất…

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Hệ thống sàn nâng cho Datacenter

Hệ thống sàn nâng được thiết kế một DC chuẩn:
• Sàn nâng chống được tĩnh điện, chống ẩm ướt chống cháy 
• Chịu lực cao, đảm bảo phân tải đều.
• Ngòai ra sàn nâng còn đảm bảo mỹ quan cho phòng Server
• Chiều cao sàn: 300 mm

Độ cao sàn nâng
Không gian phía dưới sàn nâng được sủ dụng để dẫn khí làm mát cung cấp cho thiết bị.
Độ cao tối thiểu là 300mm cho tối ưu hóa luồng khí phân phối. Nó đóng vai trò ống gió phân phối khí lạnh và vì vậy cũng phải xem xét đến hiệu ứng thoát nhiệt, trở lực gió nếu tính toán vừa sát với công suất lạnh.. Tuy nhiên nếu độ cao là  (300 mm) thì
không nên đi các loại cáp dưới sàn nâng vì sẽ ngăn chặn luồng lưu thông của khí lạnh. Độ cao
từ sàn nâng tới trần giả tối thiểu là 2400mm.

Mặt sàn nâng ( Raised Floor Finishes)
Tất cả các tấm sàn nâng trong phòng máy chủ là loại bọc tráng lớp chống tĩnh điện.

Tải sàn nâng (Raised Floor Panel Loading)
Các tấm sàn nâng là loại khung kim loại có nhồi xi măng. Các tấm sàn nâng có khả năng chịu tải
trọng tập trung là 4.5kN, Các tấm sàn nâng có khả năng chịu tải trọng tối thiểu 1000Kg/m2 cho khu vực phòng máy chủ, riêng vị trí đặt UPS và acquy yêu cầu 1500Kg/m2. Tất cả các tấm có kích thước 600mm x 600mm.

Các loại sàn
Sàn kỹ thuật cho datacenter hay sever





Tác dụng của hệ thống sàn nâng :
- Sàn kỹ thuật che lấp đi các loại hệ thống dây, ống dẫn, kỹ thuật ngầm sẽ được đi trong khoảng giữa hai mặt sàn.
- Bảo vệ hệ thống dây điện, cáp điện hay bất kì vật liệu gì để dưới sàn tránh được sự xâm hại của côn trùng, hóa chất hay không khí nóng ẩm của mặt sàn bê tông bằng hệ thống giá đỡ được thiết kế phù hợp cho từng công trình, từng loại thiết bị đặt trên sàn phụ.
- Giảm tiếng ồn, giảm rung cho thiết bị trong quá trình vận hành.
- Triệt tiêu bớt Ion+ trong môi trường tạo sự vận hành chuẩn xác hơn cho các máy móc thiết bị đặt bên trên mặt sàn. Giảm tối đa dòng điện đối với con người ngay cả khi có sự cố cháy, nổ.
- Không dẫn lửa, cho phép di chuyển các thiết bị kịp thời khi có sự cố hỏa hoạn.
- Tạo môi trường khô ráo, sạch sẽ cho các thiết bị để trên sàn


1. Sàn nâng chống tĩnh điện (Anti Static Steel Panel) cho DATA CENTER, SERVER
Là hệ thống tấm sàn thép lõi bê tông nhẹ và mặt phủ HPL chống tĩnh điện, có khả năng chịu ẩm tốt kết hợp với tấm sàn có lỗ chuyên dung cho hệ thống có điều hoà âm sàn. Kích thước tấm sàn 600 x 600 x 35 mm, được đặt lên hệ thống chân dỡ có chiều cao 150 – 1200 mm





2. Sàn nâng gỗ ép (Woodcore Panel) cho phòng viễn thông, Tổng đài
Là hệ thống tấm sàn gỗ ép cường độ cao, hai mặt là lớp thép không dỉ dày 0.5 mm. Brrf có khả năng chống tĩnh điện cao 1.59 x 108 ~ 2.2 x 108 ohm



3. Sàn nâng thép lõi bê tông nhẹ (Bare Panel / OA Panel)
Là hệ thống tấm sàn dung cho khối văn phòng cao cấp, giúp linh hoạt cho việc đi dây phía dưới.


4. Sàn nâng vinyl
Là hệ thống tấm sàn có bề mặt phủ vinyl, có khả năng chống tĩnh điện cao và giảm ồn. Là sản phẩm chuyên dung cho phòng sạch nhà máy vi điện tử.
Các đặc tính của tấm sàn vinyl / pvc
a. Tính dẫn điện.
• Nó đáp ứng được các yêu cầu của điện kháng UL 779 & NFPA 99.
• Bề mặt điện kháng: 104- 106 Ω
• Thời gian giải phóng tĩnh điện: Từ 5.000lts về 0 lts là 0.25sec.
b. Độ bền.
• Chống lại sự hao mòn theo thời gian hay do hóa chất .
c. Kích cỡ và màu sắc luôn duy trì
d. Thuộc tính tải trọng.
• Chịu được các loại tải trọng thong thuờng như: sự di chuyển máy móc hay xe hàng
e. Tính dân điện lâu dài.
• Chất dẫn điện được bố trí đều trên vật liệu nên duy trì tốt khả năng dẫn điện theo thời gian
f. Không bắt cháy.


5. Sàn nhôm
Là hệ thống sàn làm bằng hợp kim nhôm nhẹ bề mặt phủ lớp vinyl và khả năng chịu tải lớn. Là sản phẩm chuyên dùng cho phòng sạch nhà máy dược hay nhà máy thiết bị điện tử.



6. Sàn đục lỗ ( tấm thông hơi)
Là các tấm sàn thép bề mặt phủ HPL và được đục lỗ theo lỉ lệ thoát khí 41% hay 20% Dùng kết hợp với hệ thống tấm sàn cho phòng datacenter có điều hào âm sàn ( điều hòa chính xác )

Hạ tầng cơ bản của Datacenter

1_ Hệ thống sàn, vách ngăn chống cháy.
2_ Hệ thống nguồn điện, chóng sét
3_ Hệ thống làm mát.
4_ Hệ thống tủ rack.
5_ Hệ thống mạng cáp: cáp nguồn, cáp tín hiệu.
6_ Hệ thống phòng và chữa cháy.
7_ Hệ thống quản lý và cảnh báo
Vật lý: cửa ra vào, camera giám sát.
Tín hiệu: nhiệt độ, độ ẩm, cảnh báo cháy, ...

PHÂN LOẠI
Quan điểm của mình có 05 trung tâm dữ liệu cần lưu ý (không tính phòng IT nhỏ).
+ DC cho Telecom ... Tải nhiệt ổn định, có mật độ nhiệt thấp đến vừa trên diện tích.
+ DC hosting, broadbank ... Tải nhiệt ổn định có mật độ nhiệt cao trên diện tích tủ.
+ DC cho Ngan Hang, Tai Chinh, công ty hoạt động IT software... Đặt trưng tải nhiệt lên xuống theo giờ, ngày (giờ khớp lệnh, giờ chuyển tiền trung chuyển qua cổng chuyển tiền, giờ sao lưu,giờ làm việc giao dịch với khách hàng...).Tải nhiệt đồng thời giao động rất khác nhau tuỳ theo khu vực đặt thiết bị (có khu vực lên vô cùng nóng, và có khu vực vô cùng lạnh).
+ DC cho Grid Computing. Đặc trưng tải nhiệt lên xuống cực kỳ lớn tuỳ thuộc trạng thái tính toán. Lệch nhau giữa các chu kỳ tính toán có thể lên hơn 10 lần.Các chu kỳ đôi khi cách nhau chưa đến 1giờ.
+ DC service (cho thuê). Là tổng hòa giữa các hình thức trên và tuỳ theo định hướng kinh doanh mà đầu tư cho hợp lý.

==&gt; Tải càng phức tạp, mật độ nhiệt càng cao, kế hoạch mở rộng không rõ ràng sẽ là thách thức lớn nhất. (nên lấy phí thiết kế).