Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Giới thiệu SAMBA, Lab SAMBA trên CentOS Linux





Samba (Server Message Block) là giao thức giúp các máy tính trong hệ thống mạng Windows truyền thông với nhau, chia sẻ file và máy in.

Samba cũng là tên 1 phần mềm sử dụng giao thức Samba kết nối hệ thống mạng Linux với hệ thống mạng Windows.


CÀI ĐẶT VÀ CẤU HÌNH SAMBA SERVER

Mô hình bài thực hành


Nội dung của bài thực hành
Xây dựng 1 máy ảo Linux chạy hệ điều hành CentOS-5 và 1 máy thật Windows kết nối theo mô hình trên.

Cài đặt và cấu hình máy Linux làm Samba Server và Samba Client để chia sẻ file giữa máy Linux với máy Windows và máy Windows với Linux.

Địa chỉ IP sử dụng trong bài thực hành
Máy Linux : 192.168.1.1/24.
Máy Windows : 192.168.1.2/24.

Bước 1 : Đặt địa chỉ IP trên máy Samba Server và máy Windows. Tắt firewall trên máy Samba Server
[root@sambaserver]# ifconfig eth0 192.168.1.1 netmask 255.255.255.0 up
[root@sambaserver]# service iptables stop

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 745x510



Bước 2 : Kiểm tra package “samba” đã được cài đặt hay chưa. Nếu chưa tiến hành cài đặt package này qua yum hoặc rpm
[root@sambaserver]# rpm -qa | grep samba
[root@sambaserver]# yum install samba
[root@sambaserver]# rpm -qa | grep samba
samba-3.0.33-3.29.el5_5.1
samba-common-3.0.33-3.29.el5_5.1

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 744x506


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 744x512

Bước 3 : Mở file cấu hình tổng thể của samba và xem một số thông tin cấu hình chính.
[root@sambaserver]# less /etc/samba/smb.conf
...
[global] # phần cấu hình tổng thể cho dịch vụ

# ----------------------- Network Related Options -------------------------

workgroup = MYGROUP # gia nhập vào workgroup có tên “MYGROUP”
server string = Samba Server Version %v # thông tin mô tả server

# --------------------------- Logging Options -----------------------------
#
# Log File let you specify where to put logs and how to split them up.
; log file = /var/log/samba/%m.log # Vị trí đặt log file
# max 50KB per log file, then rotate
; max log size = 50

# ----------------------- Standalone Server Options ------------------------

security = user # Xác thực dựa trên user account
passdb backend = tdbsam # Sử dụng tdbsam (smbpasswd) để xác thực

[homes] # Chia sẻ thư mục home của từng người dùng
comment = Home Directories # Thông tin mô tả thư mục
browseable = no # Không hiển thị thư mục này khi browse
writable = yes # Cho phép user ghi file lên thư mục home
; valid users = %S # Giới hạn truy cập cho từng user, %S sẽ được thay thế bằng tên của user truy nhập
; valid users = MYDOMAIN\%S

[printers] # Chia sẻ các máy in
comment = All Printers
path = /var/spool/samba
browseable = no
guest ok = no
writable = no
printable = yes
...

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 743x506


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 745x509

Bước 4 : Tạo thư mục chia sẻ trên máy Samba Server và copy 1 số file vào thư mục đó.
[root@sambaserver]# mkdir /smbsharing
[root@sambaserver]# cp /var/log/*.log /smbsharing

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 744x507

Bước 5 : Tạo user có tên “sambauser" trên hệ thống và đưa user này vào danh sách user của samba.
[root@sambaserver]# useradd sambauser
[root@sambaserver]# smbpasswd -a sambauser
New SMB password:
Retype new SMB password:
[root@sambaserver]# chmod 600 /etc/samba/smbpasswd

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 744x505

Bước 6 : Backup file cấu hình của samba và cấu hình file cấu hình này để :
Chỉ cho phép các client ở subnet 192.168.1.0/24 được truy cập vào thư mục chia sẻ.

Chia sẻ thư mục /smbsharing và chỉ cho phép user “sambauser” truy cập vào thư mục chia sẻ này.

[root@sambaserver]# cd /etc/samba
[root@sambaserver]# cp smb.conf smb.conf.backup
[root@sambaserver]# vi /etc/smb.conf


host allow 127. 192.168.1.

[myshare]
comment = Shared Folder
path = /smbsharing
browseable = yes
public = yes
writeable = yes
valid users = sambauser

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 744x512


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 743x504


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 744x511

Bước 7 : Kiểm tra file cấu hình và khởi động dịch vụ samba.
[root@sambaserver]# testparm /etc/samba/smb.conf
[root@sambaserver]# service smb start
Starting SMB services: [ OK ]
Starting NMB services: [ OK ]

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 744x508


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 743x509

Bước 8 : Trên máy ảo Windows truy cập vào địa chỉ \\192.168.1.1 và login bằng account "sambauser" để xem thư mục chia sẻ.





Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 798x594


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 797x594

Bước 9 : Trên máy Windows thử tạo 1 file hoặc folder trong thư mục chia sẻ /smb/sharing. Mặc định thì việc tạo file/folder này sẽ không thành công.

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 800x596

Bước 10 : Trên máy Samba Server thay đổi lại quyền trên thư mục chia sẻ /smbsharing, thêm quyền ghi cho các user khác trên thư mục này.
[root@sambaserver]# ls -l /smbsharing
[root@sambaserver]# chmod o+w /smbsharing
drwxr-xrwx 2 root root 4096 Mar 22 01:36 smbsharing

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 745x508


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 742x508

Bước 11 : Trên máy Windows thử lại tạo 1 file/folder trong thư mục chia sẻ /smbsharing và việc tạo 1 file/folder sẽ thành công.

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 799x715


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 800x598


CÀI ĐẶT VÀ CẤU HÌNH SAMBA CLIENT


Bước 12 : Kiểm tra package “samba-client” đã được cài đặt trên máy ảo Samba Server ra chưa. Nếu chưa tiến hành cài đặt package này qua yum hoặc rpm.
[root@sambaserver]# rpm -qa | grep samba-client
[root@sambaserver]# yum install samba-client
[root@sambaserver]# rpm -qa | grep samba-client
samba-client-3.0.33-3.29.el5_5.1

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 744x508

Bước 13 : Trên máy ảo Windows tạo thư mục C:\myshare, tạo 1 số file/folder trong thư mục này và chia sẻ thư mục này.

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 798x599


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 797x598



Bước 14 : Trên máy ảo Samba Server tạo 1 mount point và thực hiện việc mount thư mục chia sẻ từ máy Windows. Kiểm tra việc mount.
[root@sambaserver]# mkdir /mnt/smb
[root@sambaserver]# mount -o username=Administrator,password=yourpassword //192.168.1.1/myshare /mnt/smb
[root@sambaserver]# mount
//192.168.1.1/myshare on /mnt/smb type cifs (rw,mand)
[root@sambaserver]# ls /mnt/smb

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 745x510

Bước 15 ( Tùy chọn ) : Tạo 1 file chứa thông tin về account username và password login vào máy Windows. Cấu hình file /etc/fstab để tự động mount thư mục chia sẻ mỗi khi hệ thống khởi động.
[root@sambaserver]# vi /etc/samba/cred
username=Administrator #username sử dụng để login
password=mypassword #password sử dụng để login
[root@sambaserver]# vi /etc/fstab

//192.168.1.1/myshare /mnt/share cifs credentials=/etc/samba/cred 0 0

Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 745x507


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 745x510


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 745x507


Hình này đã được thu nhỏ, nhấn vào đây để xem nguyên bản. Kích thước ban đầu của ảnh này là 745x509

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

Hạn chế để trở thành Zombie...

Hệ thống đặt ra
Hệ thống máy tính tại cty có mô hình và sử dụng các dịch vụ như sau:

LAN -------- Proxy\Firewall ----------- Internet.

LAN:
Workstation:
• Có khoảng 20 users sử dụng 20 computer.
• Sử dụng các phần mềm văn phòng như office, Photoshop, yahoo messenger, skype … browser.
• Sử dụng Email (Google Apps).
• Dùng Symantec để phòng Virus.
Server: 1 Windows Server 2008, sử dụng các dịch vụ:
• DNS
• DHCP
• VPN
• WSUS
• File Server.

Proxy\Firewall: 1 Cent OS
Proxy:
• Tất cả các máy tính trong LAN phải qua proxy trước khi ra internet.
• Chỉ cho đi internet trong giờ làm việc.
• Cho server được phép đi thẳng.
• Ngăn chặn không cho download các file thực thi (.exe, .bat, …)
Firewall:
• LAN -------- Internet:
Mở các port sử dụng email (IMAPs, POP3s, SMTP)
Server được phép đi thẳng.
Cấm tất cả traffic còn lại

• Internet --------- LAN:
Nat port VPN vào LAN. 


Giải quyết 
Mô hình trên là mô hình thông thường và vẫn còn nhiều kẻ hở cho hiểm hoạ, đặc biệt những tiện ích như yahoo messenger, skype và mail bên ngoài là những chỗ cho phép những dữ liệu nguy hiểm có thể đi vô máy của người dùng. Biện pháp duyệt web phải đi xuyên qua proxy (có ít nhiều cản lọc) chỉ tập trung ở luồng web traffic và nếu chỉ lọc theo mime (.exe, .bat...) thì cũng không đủ bởi vì ngày nay mã độc vẫn có thể được chèn vô một word doc hoặc một pdf file.

Nếu xét về việc "hạn chế để trở thành zombie" thì cần xét hai khía cạnh:

1. Khả năng bị biến thành zombie (lây nhiễm đường vô).
2. Khả năng bị điều khiển để tấn công các nạn nhân khác (phát tán và tấn công đường ra).

Với hai khía cạnh trên, việc "phòng cháy" luôn luôn quan trọng và cần thiết hơn "chữa cháy" bởi vì nếu để cho "lửa" bốc ra và đốt cháy thì khó dập mà có dập được thì cũng bị hư hoại phần nào. Vậy, để "phòng cháy" một cách triệt để:

- Không cho sử dụng chat clients hoặc bất cứ tiện ích nào cho phép gởi files hoặc gởi file đính kèm.

- Không cho sử dụng free emails mà phải sử dụng hệ thống mail của công ty. Hệ thống này phải được thiết kế để rà quét và kiểm tra cẩn thận files được đính kèm có độc hại hay không rồi mới chuyển về hòm thư của nhân viên.

- Không cho sử dụng USB từ bên ngoài bởi vì đây là nguồn phát tán không kém phần khủng khiếp.

- Không cho kết nối đến các cổng dịch vụ khác ngoài 80 và 443 (và 80 / 443 phải đi xuyên qua hệ thống cản lọc chặt chẽ). Cái này nhằm hạn chế tình trạng máy con đã bị biến thành zombie và có thể tự động truy cập đến hệ thống của tin tặc (còn gọi là "call home").

- Không cho duyệt các trong web độc hại. Nếu có kinh phí, nên dùng các hệ thống lọc cao cấp để đọc nội dung trang web theo thể loại (ví dụ, weapons, drugs, hacks, pornography, chit chat.....). Nếu không có kinh phí, nên dùng DNS của openDNS và áp dụng Family Shields http://www.opendns.com/landings/familyshield) hoặc nếu có tiền một chút thì dùng "Comprehensive Web Content Filtering". Bảo đảm sẽ ngăn 99.99% những thứ độc hại.

- Hệ thống mail cần phải có bộ phận rà lọc thông tin kỹ lưỡng. Nên nhớ, không phải lúc nào antivirus cũng có thể tóm được những malware mới. Bởi vậy, mail đi vào công ty cần phải xét kỹ xuất xứ trước khi xét đến tin đính kèm.



Việc "chữa cháy" có hai khía cạnh khác:
a. Máy con trong LAN bị biến thành zombies và bắt đầu tấn công thiên hạ.
b. Tìm và diệt zombies.

Thông thường, zombies dùng cho mục đích DDoS (hầu hết zombies ngày nay có mục đích này) cho nên sự thay đổi trong lưu lượng truy cập Internet sẽ nhảy vọt. Nếu sử dụng proxy trong LAN thì sẽ thấy những chuỗi requests đến một số websites với tầng số cao. Trước hết, block ngay các traffic ấy (nếu dùng squid thì có thể dễ dàng block bằng ACL, nếu có kèm theo firewall nào đó thì tìm cách block dst-ip [địa chỉ IP của nạn nhân đang bị tấn công]).

Cũng xuyên qua proxy logs, bạn có thể xác định máy nào trong LAN đã "dội bom" ra bên ngoài. Nếu được, nên tạo một "disk image" của hard disk này và gởi đến nhóm chuyên gia malware nào đó để nhờ họ phân tích (nếu antivirus không detect được). Nếu không, nên format lại disk và cài lại máy trọn bộ cho an toàn.

Nếu sự dụng proxy cho LAN, có thể setup proxy "mở cửa" và "đóng cửa" theo giờ làm việc thông thường của công ty (hoặc ít ra theo giờ giấc mà hầu hết nhân viên công ty có mặt và bạn có thể kiểm soát).


(Sưu tầm)

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Lý tưởng khoa học
SGTT.VN - Khi xây dựng lý thuyết khoa học, nhà khoa học theo đuổi những mục đích nhất định. Nhưng, bao trùm những mục đích ấy lại là những lý tưởng lý thuyết và thực hành; chúng mang lại ý nghĩa cho hoạt động khoa học. Người ta thường kể ra sáu “lý tưởng”: tính chân lý, tính giản dị, tính mạch lạc, năng lực giải thích, năng lực tiên đoán và năng lực hành động.
“Tiệm cận” và con đường ngắn nhất
Lý tưởng rõ ràng nhất là tính chân lý. Kỳ cùng, mục tiêu hàng đầu của mọi nỗ lực nghiên cứu khoa học là cung cấp một sự mô tả đúng đắn về những gì thực sự diễn ra. Những khẳng định như “hôm nay trời sẽ mưa” chỉ đòi hỏi một phương pháp kiểm chứng đơn giản để biết đúng hay sai. Thế nhưng, khó khăn lớn đối với lý tưởng hàng đầu này ở chỗ không phải lúc nào cũng có thể đạt được kết quả “đúng” hoặc “sai” một cách đơn giản. Lý do thường gặp: các lý thuyết khoa học hoặc quá tổng quát nên khó kiểm chứng, nhất là đối với những đối tượng khó quan sát chính xác, hoặc đơn giản chỉ vì chúng quá phức tạp hay mơ hồ.
Chính vì thế, các nhà khoa học luận thường sử dụng khái niệm “tính tiệm cận chân lý” hay tính gần đúng. Karl Popper luôn viện dẫn khái niệm này trong học thuyết kiểm sai của ông đối với sự phát triển khoa học (Sài Gòn Tiếp Thị, Khoa học phát triển như thế nào?, 22.2.2011). Theo Popper, mức độ tiệm cận của một lý thuyết là phạm vi mà lý thuyết ấy tỏ ra tương ứng với tổng thể những sự kiện, hơn là với một số sự kiện cá biệt. Một lý thuyết là “sai” hiển nhiên, theo nghĩa nó vấp phải những trường hợp bị phản chứng, nhưng vẫn có thể được xem là một sự tiệm cận chân lý khá tốt, vì nó giải thích được rất nhiều sự kiện khác. Chẳng hạn, theo Popper, cơ học Newton, tuy có nhiều chỗ không phù hợp đối với những vật thể quá nhỏ, vẫn được xem là ưu việt hơn lý thuyết của Galileo, bởi nó có thể giải thích được nhiều sự kiện hơn, ở phạm vi rộng lớn hơn và hợp nhất được cơ học mặt đất và cơ học bầu trời vốn trước đó còn bị tách rời. (Tất nhiên, ta nhớ rằng các nhà công cụ luận có thể vẫn không chịu thừa nhận chân lý và sự tiệm cận chân lý là mục đích của khoa học!)
Một nguyện vọng khác của lý thuyết khoa học là tính giản dị. Mức độ của tính giản dị trong một lý thuyết là ở chỗ có nhiều khái niệm được phân biệt minh bạch, những giả định, những định luật gọn gàng và “trang nhã” để dễ rút ra những tiên đoán. Công thức nổi tiếng e = mc2 của Einstein là một ví dụ điển hình. “Nếu trước mặt bạn có nhiều con đường và bạn muốn mau đến đích, chẳng ai hỏi tại sao bạn lại chọn con đường ngắn nhất! Ta chọn lý thuyết giản dị nhất, không hẳn vì nó có vẻ đúng nhất mà vì nó là hợp lý nhất. Ta chuộng tính giản dị và hy vọng vào chân lý” (Nelson Goodman, 1972).
Tính mạch lạc và khó khăn của nó
Các nhà khoa học cũng mong muốn lý thuyết của mình tỏ rõ tính mạch lạc, nhất quán. Tính mạch lạc của một lý thuyết thể hiện ở mức độ tương thích với những lý thuyết khác có liên quan. Ngay trong đời sống thường ngày, ai cũng thấy “giả thuyết” rằng trời đang mưa tương thích với việc chiếc áo mưa ướt sũng hơn là với việc tôi không thích mặc áo mưa hay 2 + 2 = 4! Nếu có hai giả thuyết giải thích cùng một hiện tượng, có năng lực tiên đoán gần như nhau, thì nhà khoa học luôn ưa chuộng giả thuyết nào có mức độ nhất quán nhiều hơn (với các lý thuyết khác đã được biết trước đó).
Tuy nhiên, dù giữ vai trò khá quyết định trong việc xác định giá trị của lý thuyết, tính mạch lạc cũng gặp không ít khó khăn khi ta muốn đưa ra đánh giá về nó. Thứ nhất, tiêu chuẩn về tính mạch lạc có khi không song hành với tiêu chuẩn về tính chân lý: một lý thuyết có thể hết sức mạch lạc, nhất quán nhưng vẫn có thể là sai, bởi nó không tương ứng với thực tại. Sau nữa, bản thân tiêu chuẩn này cũng có tính lẩn quẩn. Nếu tính mạch lạc của một lý thuyết thể hiện ở mức độ tương thích với những lý thuyết khác, và nếu tính mạch lạc của chính những lý thuyết khác này cũng được đánh giá dựa vào tính mạch lạc của chúng với lý thuyết ban đầu, có khi người ta không biết phải sử dụng lý thuyết nào làm lý thuyết xuất phát! Thêm vào đó, bản thân khái niệm “tính mạch lạc” cũng khá mơ hồ. Phải chăng đó chỉ là tính mạch lạc logic? Hay chính nhờ sự mạch lạc với các lý thuyết khác mà một giả thuyết tỏ ra khả tín?
Sức cám dỗ của kinh nghiệm thực hành
Thí nghiệm làm giàu kiến thức. Sùng tín dẫn đến sai lầm.
Châm ngôn Árập
Yêu cầu cốt lõi đối với một lý thuyết khoa học là ở năng lực giải thích và tiên đoán của nó. Ta muốn biết tại sao sự việc nào đó lại xảy ra, nghĩa là, đồng thời muốn biết tại sao những sự việc khác lại không xảy ra. Chính vì thế, dường như có một sự đối xứng giữa năng lực giải thích và năng lực tiên đoán khoa học. Trong sự giải thích khoa học, ta biết lý do tại sao điều gì đó phải xảy ra. Còn trong sự tiên đoán khoa học, ta được cho biết điều gì đó sẽ xảy ra. Nói theo thuật ngữ nổi tiếng của Hempel và Oppenheimer (thường được viết tắt là “sơ đồ H-O”) về mô hình diễn dịch – giả thuyết, trong sự giải thích khoa học, ta đã biết “cái cần được giải thích” và cố gắng đi tìm cho nó “cái dùng để giải thích”. Ngược lại, trong sự tiên đoán, ta đã biết “cái dùng để giải thích” và muốn biết cái gì sẽ xảy ra (tức “cái cần được giải thích”).
Tóm lại, khoa học được đánh giá bằng năng lực áp dụng thực hành của nó, nghĩa là, những hành động nào ta có thể làm được trên cơ sở của những sự giải thích và tiên đoán. Tuy nhiên, năng lực thực hành bao giờ cũng là một sự cám dỗ nguy hiểm. Ta nhớ đến nhận định đáng giá sau đây của Michael Polanyi (1891 – 1976), nhà khoa học có nhiều đóng góp đa dạng trên nhiều lĩnh vực: vật lý, hoá học, kinh tế, triết học: “Hầu hết những sai lầm mang tính hệ thống thường lừa dối con người suốt hàng mấy ngàn năm đều dựa vào kinh nghiệm thực tiễn. Trước khi nền y học hiện đại ra đời, chiêm tinh, bói toán, ma thuật, phù thuỷ, chữa bệnh theo kiểu bí thuật đều được xác lập vững chắc qua nhiều thế kỷ trước mắt công chúng nhờ vào những thành công tưởng như rất hiển nhiên của chúng trong thực tế. Do đó, phương pháp khoa học hiện đại thực ra chẳng làm việc gì khác hơn là tiến hành giải thích và tiên đoán dựa trên những điều kiện được kiểm tra thận trọng hơn và những tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn so với những gì đã diễn ra trong thực tế trước đây” (Tri thức con người, 1958).
(còn tiếp)
Bùi Văn Nam Sơn - Minh hoạ: Hồng Nguyên
Theo Saigontiepthi

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Tổng giám đốc FPT: Hãy dùng “thế” để cạnh tranh

picture
Ông Nguyễn Thành Nam - Ảnh: VEF.
“FPT là một công ty bé, muốn cạnh tranh với các doanh nghiệp hàng đầu thì về cơ bản không thể dùng lực mà phải dùng thế”

“FPT là một công ty bé, muốn cạnh tranh với các doanh nghiệp hàng đầu thì về cơ bản không thể dùng lực mà phải dùng thế”, Tổng giám đốc Tập đoàn FPT Nguyễn Thành Nam tâm sự trên diễn đàn VEF, chiều 8/12.

Smartphone không cứ đắt hay rẻ

Trả lời về việc FPT sản xuất điện thoại di động, nhưng linh kiện có nguồn gốc từ Trung Quốc, ông Nam cho biết, đây là một quá trình học hỏi. Trước đây, FPT từng tự làm điện thoại, nhưng “không bán được”.

Theo ông Nam, cái sai đầu tiên là tự tách mình ra khỏi thế giới. “Trên thế giới này không có cái gì mà tự mình làm nữa, chỉ có mình là tự hì hụi làm thôi, thành ra bên ngoài thay đổi mình không biết. Chính vì vậy, trước khi làm cái gì thì phải tìm hiểu cái này thế giới làm như thế nào đã rồi hãy tham gia, rồi từ đó là nhảy vào chỗ nào mà mình mạnh nhất”, ông nói.

Ông lấy ví dụ, “kinh nghiệm làm cái điện thoại, thì phải đi xem Nokia làm điện thoại như thế nào, còn nếu lập nhà máy để ngồi làm điện thoại thì ba hôm là chết. Nếu đến trung tâm thiết kế của Nokia thì chán luôn không muốn làm nữa vì mình sẽ thua chắc rồi. Như vậy, có những chỗ là mình sẽ thua chắc, và có những chỗ mình cũng sẽ cạnh tranh được.

Trong kinh tế, họ gọi là lợi thế cạnh tranh tương đối, tức là bạn vẫn mạnh hơn mình, nhưng so về tương đối thì chỗ này là bạn ít mạnh hơn nhất. Mình tập trung vào chỗ ấy, những chỗ khác mình không làm, vì nguồn lực mình rất ít mà cái gì mình cũng làm cả thì không thể thành công được. Làm cái gì cũng phải xem có cạnh tranh được không”.

Tổng giám đốc FPT cho biết, trong một cuộc triển lãm về thành tựu điện tử thế giới vừa diễn ra ở Hàn Quốc, Tổng thống Mỹ Barack Obama có đến thăm một quầy hàng của hãng Motorola. Gian hàng này giới thiệu một con chip thế hệ mới, chip đấy một phần làm ở FPT.

Tuy nhiên, theo ông Nam, “mình vẫn chưa thể làm được cả con chip, mình cũng không nên đặt mục tiêu làm cả con chip ấy. Nếu mình đã làm ra như vậy thì tức là mình đã tích hợp được thế mạnh của mình vào thế mạnh của thế giới, lúc đó mình sẽ mạnh hơn rất nhiều. Vấn đề thứ hai nữa là mình cần phải có thương hiệu, Motorola có thương hiệu, mình không có”.

Trao đổi về ý tưởng sản xuất điện thoại FPT, ông Nam bộc bạch, “việc làm thế nào mà một chiếc điện thoại rẻ tiền mà lại thông minh như iPhone là việc mình phải làm. Mình có làm được không? Tôi nghĩ là làm được, nếu như mình hiểu mình đang đứng ở đâu. Đấy là mục tiêu mình đặt ra. Cách quan sát rất đơn giản, đó là điện thoại rẻ tiền nhưng thông minh. Tất nhiên là rẻ tiền mà thông minh thì nó không thể thông minh như đắt tiền được, nhưng cũng phải thông minh tương tự”.

Tổng giám đốc FPT kể, có người từng định nghĩa với ông rằng smartphone là iPhone hay BlackBerry. Nhưng với ông, smartphone là điện thoại lập trình được. “Thế anh có biết là mua một cái BlackBerry bao nhiêu tiền không, mà chưa kể không dùng được, phức tạp lắm”, ông nói.

Chưa hết, theo ông Nam, Tổng giám đốc của Intel khi phát biểu trước tất cả các thành viên của mình từng nói rằng “cuộc cạnh tranh bây giờ đang ở châu Á”. FPT có may mắn là đang ở đúng chỗ thế giới, chẳng phải lo gì, sẽ phải cạnh tranh ngay ở đây. Tuy nhiên, FPT không nên làm cái gì đó quá đặc thù Việt Nam, sẽ khó bán ra thế giới.

“Ví dụ Twitter thì ai cũng chơi được nhưng chơi “ô ăn quan” thì ở nước ngoài khó. Vì vậy, khi mình làm cần phải tính toán trước liệu dân Bangladesh, Indonesia có chơi được không? Từ xưa người Việt Nam vẫn quen những đặc thù của Việt Nam nên khó mang ra thế giới. Rất may chúng ta đang ở trung tâm phát triển rất năng động của thế giới”, ông nói.

Phi thường và bình thường

Ông Nam nhìn nhận, thói quen tự coi mình là phi thường không phải chỉ là “bệnh” của FPT mà còn của nhiều người khác. Theo ông, thực sự người Việt Nam cũng làm được nhiều việc lớn, nhưng nhiều khi không chịu quên nó đi, cứ luôn nghĩ mình đang làm việc lớn, mà lại là việc khác mất rồi.

Ông lấy ví dụ: “Ngày xưa mình từng học toán rất giỏi nhưng bây giờ đi làm kinh doanh, thì phải quên việc mình học toán giỏi mà mình nghĩ là phi thường ấy đi. Bản thân FPT nhiều khi cũng quên mất việc đó, mình cũng không thể cứ sống dựa vào thành công trong quá khứ”.

Tổng giám đốc FPT chia sẻ, Bác Hồ từng nói đại ý một đất nước yếu muốn đánh bại một cường quốc (hồi đó là Pháp) thì không thể dựa vào vũ lực mà phải dùng thế. Áp dụng vào trường hợp FPT, đây là một công ty bé, muốn cạnh tranh với các doanh nghiệp hàng đầu thì “không thể dùng lực để đối chọi”, mà phải dùng thế.

Cái thế ở đây, theo ông Nam, nó gắn với cả Việt Nam, với cả đất nước chứ không phải chỉ một mình công ty. Thế là do nhân dân tạo nên, do tình hình thế giới thay đổi, năm nay khủng hoảng có thể làm việc này tốt nhưng sang năm sau hết khủng hoảng việc đó lại không tốt nữa.

“Mình nhận thức được vị thế của mình, thì mình sẽ không giáo điều. Có một triết lý hay về sức mạnh của kẻ yếu, vì nó biết yếu điểm nào và có ước muốn vươn lên, nên có thể sẽ mạnh hơn kẻ mạnh mà không hiểu”, ông Nam trao đổi.

“Tôi không thần tượng Bill Gates”

Nói về việc gia công phần mềm cho các tập đoàn nước ngoài, ông Nam cho rằng, đây cũng có thể là một cái bẫy, bẫy muốn thành công nhanh. “Nếu ông đang ở dưới đáy của xã hội mà ông muốn trở thành Bill Gates thì đó là một giấc mơ điên rồ. Cho nên tôi nghĩ cái khẩu hiệu Việt Nam phải có nhiều Bill Gates là khẩu hiệu hại nhiều hơn lợi”, Tổng giám đốc FPT chia sẻ.

Theo ông, cách tư duy Việt Nam phải đẻ ra những Bill Gates có lỗi của truyền thông trong cách tuyên truyền, đã thổi những hình ảnh không hiện thực, nếu quay lại thời chiến tranh thì các cụ nhà ta đưa ra những hình ảnh rất hiện thực và có thể lặp lại được, người anh hùng là có thể học được.

“Tôi không thần tượng Bill Gates, cũng không làm Windows, bây giờ các tập đoàn nước ngoài cho mình làm cùng cũng là tốt lắm rồi. Từ chỗ làm cùng, mình sẽ học được gì, nói chuyện gì, sau đó mới là sang tạo ra cái của mình. FPT đang đặt ra mục tiêu là nói chuyện ngang hàng với tất cả các khách hàng, sau đó năng lực học tập, vì chúng ta năng lực học tập là nhanh lắm nhưng từ đó đúc kết ra sản phẩm trí tuệ là thách thức.

Chúng ta hãy nhìn lại sau mấy chục năm phát triển có bao nhiêu sản phẩm, mình rất thực tế, tránh những việc không hiện thực. Chúng ta phải gieo vào thanh niên lý tưởng hãy làm việc thật tốt, thật năng suất công việc của mình đi, ví dụ một nhân viên chưa làm tốt công việc của mình, còn mắc lỗi mà nói tôi sẽ làm cái này, làm cái kia, thì hãy nhìn lại đi. Muốn làm sản phẩm tốt thì việc bây giờ phải làm tốt nhất những việc nhỏ nhất, dù là gia công”.

Để có được những doanh nghiệp gia công phần mềm lớn như Ấn Độ, theo ông Nam, đầu tiên là phải đủ về số lượng đã, sau đó là phải đạt đến một trình độ nào đó. Sau đó là mình xác định mình đi vào lĩnh vực nào, mình mạnh cái gì, vì mình có rất nhiều điểm yếu, mà điểm yếu cốt lõi nhất của mình là không biết tiếng Anh. So với Ấn Độ, số lượng lập trình viên của Việt Nam chỉ bằng có 1%, đó là số lượng chứ chưa nói chất lượng.

Tuy nhiên, ông cho rằng, thanh niên Việt Nam có một điểm rất mạnh là học nhanh. Công nghệ càng mới thì việc học càng có ích, càng học nhanh càng có lợi. Người Việt Nam phát huy được cái học nhanh và đam mê. Chỉ cần một người thôi, thậm chí là hai người ngồi với nhau là có thể lập được một chương trình rồi.

Ông Nguyễn Thành Nam là một trong 13 thành viên sáng lập FPT. Ông có niềm đam mê và khát vọng đặc biệt với tin học. Chính điều này đã thôi thúc ông trở thành một trong những người khai phá, phát triển mảng kinh doanh phần mềm ở FPT.

Trên cương vị Tổng giám đốc, ông Nam có tầm nhìn lớn với mục tiêu đưa FPT trở thành nhà cung cấp dịch vụ giải pháp phần mềm hàng đầu khu vực và ghi tên ngành công nghiệp phần mềm của Việt Nam trên bản đồ phần mềm thế giới.

Trao đổi về những bước đi của FPT trong nỗ lực trở thành một tập đoàn toàn cầu và lọt vào Top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, ông Nam chia sẻ: “Điều quan trọng đầu tiên là phải dám mơ cái đã, đã mơ thì phải mơ to, còn làm thì từng bước nhỏ”.

Chủ Nhật, 26 tháng 12, 2010

Tìm hiểu về pin


Các loại Pin thông dụng

Dưới đây là hình ảnh một số loại Pin thông dụng có trên thị trường.
<= Pin Zinc carbon Điện áp 1.5V
 Đây là loại Pin đã có từ rất lâu. Pin carbon kẽm có giá rất rẻ. Đây là lựa chọn tốt cho các thiết bị tiêu thụ ít điện năng (đèn pin và đồ chơi). Các loại pin trong nước sản xuất như pin con thỏ , con ó...thường thuộc loại này. Do có nội trở cao, bạn không sử dụng loại pin này cho các thiết bị như máy ảnh được.
Pin có thể duy trì cho các thiết bị có dòng nhỏ như đồ chơi, bảng điều khiển. Chú ý rằng, nếu dùng lâu mà không kiểm tra, dung dịch điện phân trong Pin có thể sẽ chảy ra phá hỏng các tiếp điểm gá pin, nếu chảy vào mạch điện, có thể gây chập, hỏng mạch. Nên kiểm tra thường xuyên 2-3 tháng hoặc thay luôn khi thấy có hiện tượng vỏ pin ẩm hoặc phồng (Có thể pin vẫn còn cung cấp được điện, nhưng nếu để dùng tiếp, pin sẽ chảy) Mức tự xả của pin tròn carbon kẽm tối đa là 4%/năm.


  
<= Pin Alkaline (Pin kiềm) Điện áp 1.5V. Có thể mua được pin loại này khá dễ dàng. Nếu bạn dùng với máy ảnh số thì thời gian sử dụng sẽ ngắn. Tuy vậy với giá khá rẻ pin Alkaline vẫn là lựa chọn của nhiều người. Pin Alkaline có chất lượng tốt trên thị trường do các hãng danh tiếng như Fuji hay Duracell sản xuất. Khi sử dụng điện áp và khả năng chịu tải của pin alkaline giảm dần dần . Nhờ vậy, người dùng có thể nhận biết được thời điểm hết pin.
Pin alkaline có nội trở nhỏ, khả năng chịu tải cao, có thể bảo quản trong nhiều năm, suy yếu trung bình 2%/năm. Pin có thể sử dụng tốt cho những thiết bị tiêu thụ dòng nhỏ như đồng hồ treo tường hoặc điều khiển các loại như Tivi, điều hòa... Chú ý về Pin như Pin Cacbon kẽm.




<= Niken Cadimi (Ni-Cd) điện áp 1.2V
Ni-Cd, là Pin có nội trở nhỏ do đó rất phù hợp khi dùng với máy ảnh số, đèn flash.... Pin này có số lần sạc lại nhiều nhất, lên tới 1000 lần, tuy nhiên bạn phải cẩn thận khi sử dụng vì pin Ni-Cd rất độc.
Một trong số các yếu điểm của pin Ni-Cd là điện thế giảm đột ngột ở cuối chu kỳ xả. Sự giảm đột ngột này không nhanh bằng pin Ni-MH nhưng thấy rõ so với pin Alkaline. Vì vậy, để tránh “cái chết đột ngột này” bạn nên có pin dự phòng khi đi xa hay làm những việc quan trọng.
Một đặc điểm Ni-Cd là hiệu ứng nhớ (memory effect). Đây là hiện tượng suy giảm tuổi thọ nhanh chóng nếu không sử dụng pin đúng cách. Hiện tượng này được giải thích như sau: khi bạn sạc pin Ni-cd với dòng sạc nhỏ hoặc dùng pin không kiệt đã sạc lại thì một số hợp chất hoá học sẽ tích tụ ở cực âm của pin. Nếu bạn tiếp tục sạc kiểu này, các hợp chất tích tụ ngày càng nhiều thêm và làm giảm khả năng tích lũy năng lượng. Cách tốt nhất để tránh hiện tượng này là dùng pin cho đến hết hay xả trước khi sạc. Các bộ sạc pin Ni-Cd tốt  thường có nút bấm để xả pin rồi tự động sạc khi điện áp tụt đến mức thấp nhất.

+Pin Ni-MH (Nickel Metal Hidride) Điện áp 1.2V.
Pin Ni-MH dạng “AA” có thể dùng với hầu như tất cả các thiết bị đang dùng pin Alkaline và Ni-Cd. Pin Ni-MH có khả năng lưu trữ năng lượng tốt và nội trở nhỏ. Đây là lực chọn phổ biến vì pin Ni-MH có hiệu ứng nhớ ít hơn Ni-Cd và dung lượng pin cao hơn hai lần pin Ni-Cd. Với pin này bạn có thể sạc bất cứ lúc nào mà không cần phải xả pin.Tuy nhiên nếu dùng liên tục trong tình trạng đó, pin vẫn bị chai. Ngoài ra nó có thể bị hỏng vì nhiệt nếu sạc quá lâu. Bạn nên sử sụng bộ sạc pin chất lượng cao. Có điều khiển tự động để tránh điều này.Khi mua pin Ni-MH, bạn nên mua các loại có dung lượng cao (cỡ 1800mAh trở lên). Trên thị trường bạn có thể mua pin Ni-MH của các hãng như Sanyo, Panasonic, Sony... có dung lượng 2000-2500mAh với giá khoảng 140.000 - 250.000 đ/vỉ 4 viên cỡ AA. một lưu ý nữa là không nên dùng sạc của pin Ni-Cd cho pin Ni-MH để tránh cháy, nổ pin nhất là khi dùng bộ sạc nhanh. Sau khi sạc hãy bỏ pin khỏi bộ sạc để tránh hao điện trong pin.



<= Pin silver oxide (oxit bạc) Điện áp 1.5V.
Đôi khi ta thấy Pin này có điện áp 6V hoặc 12V. đó là do có nhiều pin nhỏ nối tiếp ở bên trong. Pin này hoạt động được trong môi trường nhiệt độ thấp, nội trở nhỏ và có khả năng chịu tải xung.
Pin silver có độc tính cao không thông dụng do giá rất đắt. Bạn có thể thấy loại pin này trong một số loại đồng hồ, máy trợ thính, và các máy ảnh tiêu thụ ít năng lượng. Ngoài ra, do Pin khi hết không chảy nước nên rất được ưa chuộng khi gắn trực tiếp lên bo mạch như Pin CMOS trong máy vi tính. (.Cấu tạo chi tiết.)





Cell Li-ion
<= Pin Lithium-lon (Li-lon)  Điện áp  3.7V
Pin Li-ion hiện nay được sử dụng trong nhiều trong các thiết bị cao cấp như điện thoại di động, PDA, máy ảnh đắt tiền và máy tính xách tay...nó có thể lưu trữ nhiều năng lượng hơn pin Ni-Cd và Ni-MH trên cùng một dung tích, nhưng cũng đắt hơn nhiều do công nghệ chế tạo và chất liệu được sử dụng. Trong mỗi viên pin Li-ion thường có mạch điều khiển quá trình sạc và bảo vệ pin. Một khối Pin máy tính xách tay có thể có nhiều viên Pin (Cell) ghép lại để có được điện áp và dòng đủ lớn. Ví dụ Pin có điện áp 14.8V tức là có 4 viên Pin 3.7V nối tiếp nhau (4 cells).
Pin Li-ion suy giảm chất lượng theo thời gian bất kể bạn dùng hay không dùng nó. Vì vậy khi mua pin, bạn cần được đảm bảo rằng pin mới được sản xuất. Bạn có thể sạc pin bất cứ lúc nào, đầy hay hết không quan trọng nhưng Pin sẽ giảm chất lượng sau mỗi lần sạc. đó là lý do tại sao các chương trình kiểm tra pin ( Battery monitoring) trên máy tính xách tay đếm cả số lần sạc pin. Thường thì tuổi thọ của Pin khoảng 500 lần sạc, nhưng khi đó Pin chỉ còn 20-30% dung lượng so với ban đầu.(.Cấu tạo chi tiết.)


<=Pin Lithium-Polymer (Li-Po) Điện áp 3.7V
Là thế hệ pin mới và cũng đắt tiền nhất nên chỉ xuất hiện trong các thiết bị PDA và điện thoại di động cao cấp. Pin Li-Po có chất điện phân dạng rắn khác với điện phân lỏng như hầu hết các loại pin khác. Điều đó có nghĩa nó có trọng lượng nhẹ hơn nhiều so với các loại pin khác và nhà sản xuất có thể chế tạo pin Li-Po với bất kỳ hình dạng nào. Như Pin theo hình bên là Pin cho PDA SONY NR70V. Pin chỉ có chiều dày 2mm. Đựng trong túi Polimer và có dòng cung cấp tới 1200mAh.
Pin Li-Po nhẹ và có khả năng lưu trữ năng lượng nhiều hơn bất kỳ loại pin nào kể trên vì vậy rất được ưa chuộng và sử dụng phổ biến trong các thiết bị cầm tay hiện nay . Các chú ý về cách sử dụng cũng như các đặc tính Pin này cũng như Pin Li-ion.